Tiến Quận công Lê Văn Hiểu
Tiến Quận công Lê Văn Hiểu sống và làm quan nửa đầu thế kỷ XVII, là tướng nhà Lê - Trịnh. Cuộc đời binh nghiệp dẫu nhiều thăng trầm song với người dân đất Năng Cải xưa, ông là vị phúc thần có nhiều dấu ấn, được dân làng tôn kính.

Trải qua nhiều thế kỷ, Tiến Quận công Lê Văn Hiểu vẫn được hậu thế tôn kính phụng thờ.
Ông người làng Năng Cải, tổng Liên Trì, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia xưa, nay thuộc phường Ngọc Sơn. Là con cháu họ Lê, song từ nhỏ đã được chúa Trịnh nhận nuôi dưỡng, lớn lên lại gả con gái là Quận chúa Phù Dung. Cũng bởi được giáo dưỡng nghiêm cẩn, tư chất thông minh nên Lê Văn Hiểu lớn lên sớm văn võ toàn tài.
Sinh thời ông giỏi chữ nghĩa, văn chương, khi còn trẻ đã làm việc ở Hàn lâm viện, kinh qua nhiều vị trí trong triều. Về sau, theo vua Lê - chúa Trịnh dẫn quân đi đánh trận. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn với những trận đánh giao tranh với quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Sau khi chúa Sãi ở Đàng Trong qua đời, người con là Nguyễn Phúc Lan lên nối nghiệp. Tuy nhiên, giữa anh em họ Nguyễn lúc bấy giờ có nhiều bất hòa, nhất là việc tranh giành quyền lực. Nhân cơ hội đó, ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh Tráng sai tướng dẫn binh vào đất Thuận Hóa đánh dẹp. “Trịnh Tráng thấy anh em họ Nguyễn tranh nhau, sai tướng vào đánh đất Nam Bố Chính, giết được tướng họ Nguyễn là Bùi Công Thắng, rồi tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ” (sách Việt Nam sử lược).
Trong số những tướng nhà Lê - Trịnh đi đánh quân Nguyễn lần đó, có Lê Văn Hiểu. Trong một lần giao tranh, ông có công tiên phong xông lên phá thành lũy. Về sau ông được thăng tước Tiến Quận công, được giao giữ trọng trách Tả trấn quân doanh.
Năm 1643, chúa Trịnh Tráng rước vua Lê dẫn theo đại binh vào đất Bố Chính đánh dẹp. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng khắc nghiệt, quân sĩ không quen khí hậu nên sau một thời gian buộc phải rút quân về. Tả trấn quân doanh Lê Văn Hiểu ở lại đóng đồn, giữ đất.
Trong thời gian trấn giữ tại đây, với tài cầm quân, Tả trấn quân doanh Lê Văn Hiểu thường xuyên cho quân vượt sông Gianh đón bắt tướng tuần tra, rồi đánh vào các đồn khiến quân Nguyễn rối loạn, nhiều lần phải rút chạy. Những hoạt động thăm dò, tập kích tuy không lớn song khiến quân chúa Nguyễn không khỏi lúng túng, hoang mang.
“Năm Mậu Tý (1648), Trịnh Tráng sai Đô đốc Tiến Quận công Lê Văn Hiểu đem quân thủy bộ vào đánh xứ Nam; bộ binh tiến lên đóng ở đất Nam Bố Chính; còn thủy quân thì vào đánh cửa Nhật Lệ” (sách Việt Nam sử lược).
Trước tình thế nguy cấp, chúa Nguyễn buộc phải điều hai vị đại thần là Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến cùng Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật dẫn binh đến khu vực giao tranh để ổn định tình hình. Với tài mưu lược, hai vị tướng dưới trướng chúa Nguyễn vạch định kế hoạch phản công đại quy mô bằng cả hai lực lượng thủy, bộ. Dưới sự dẫn dắt của hai vị tướng tài, quân Nguyễn đã phản công thành công, thay đổi cục diện chiến trận. Dù là tướng giỏi song trước sự “vây ráp” của quân Nguyễn, Tiến Quận công Lê Văn Hiểu không thể xoay ngược thế trận, quân Lê - Trịnh bị tổn hại không ít.
Sự kiện này được sách Đại Việt sử ký toàn thư, chép: “Mùa hạ tháng 4, Nguyễn Phúc Tần ở Thuận Hóa tự xưng là Thái úy Dũng quốc công, sai bè đảng là bọn Thuận Nghĩa, Chiêu Vũ đánh úp phá được thuộc tướng Tả trấn là Mậu Quận công Phạm Tất Toàn ở châu Bố Chính. Tất Toàn đem châu ấy đầu hàng giặc. Bọn giặc lại thừa thắng, tiến đánh bọn Tả trấn Tiến Quận công Lê Văn Hiểu và Hữu trấn Đông Quận công Lê Hữu Đức ở miền Hà Tây huyện Kỳ Hoa. Văn Hiểu đem quân bản bộ cố sức đánh, chân trúng phải đạn, thế không địch nổi, cùng với Hữu Đức lui chạy... Ngày hôm sau Văn Hiểu và Hữu Đức lại đem các thuộc tướng tiến vào đóng ở xã Đại Nại huyện Thạch Hà để làm kế chống giữ... Tháng 5, cho gọi Lê Văn Hiểu, Lê Hữu Đức và các thuộc tướng về kinh; đi đến nửa đường, Văn Hiểu bị đau vì vết thương mà chết”.

Di tích lịch sử văn hóa đền thờ Lê tộc công thần - nơi thờ Tiến Quận công Lê Văn Hiểu đã được tôn tạo năm 2007.
Lại có lưu truyền kể rằng, bấy giờ dù giành thắng lợi, song quân Nguyễn biết rằng Lê Văn Hiểu là tướng giỏi của nhà Lê - Trịnh, nếu chưa bắt được ông thì chưa thể yên tâm. Bởi vậy, sau khi viết thư dụ ông đầu hàng bất thành, quân Nguyễn đã bày kế ly gián, cho người gửi thư ra Thăng Long cho chúa Trịnh hòng khiến nhà chúa nghi ngờ lòng trung của ông. Chúa Trịnh Tráng tức giận, cho đại quân vào phía Nam để chặn đánh quân Nguyễn, đồng thời sai người áp giải Lê Văn Hiểu về kinh. Trên đường trở về, ông đã uống thuốc độc tự vẫn.
Về cái chết của tướng quân Lê Văn Hiểu, sử liệu cũng chép khác nhau. Song có một điều chắc chắn, dẫu không vinh hiển tột bậc, không giành được thắng lợi rực rỡ trên chiến trường nhưng ông vẫn là vị dũng tướng được nể trọng. Cho đến nay, nhắc đến ông, hậu thế còn lưu truyền câu ca: “Ngoài cõi cầm quân chốn chiến trường/ Cửu trùng ơn nặng há xem thường/ Trung thần quyết chẳng thờ hai chúa”.
Lại nói, sinh thời dù bận việc quân cơ song Tiến Quận công Lê Văn Hiểu vẫn đặc biệt quan tâm đến đời sống của người dân nơi quê nhà Năng Cải. Ông chiêu dân lập nên các thôn (cũ) như Bản Chi, Hiền Lương, Nhân Linh...; Cùng người dân lập nên chợ Kho (cũ). Lại bỏ tiền riêng mua ruộng đất giao cho người dân cấy cày để lo việc của làng... Ghi nhớ công lao, sau khi ông mất người dân Năng Cải đã lập dựng đền thờ, tôn ông làm phúc thần.
Cũng theo lưu truyền, sau khi ông qua đời, người vợ là Quận chúa Phù Dung khi vào viếng chồng cũng tuẫn tiết theo. Cảm động trước lòng tiết nghĩa, dân làng đã phối thờ bà tại đền. Ngày nay, đền thờ nằm trên địa bàn tổ dân phố Hải Ninh, phường Ngọc Sơn. Với những giá trị lưu giữ, đền thờ Lê tộc công thần - nơi thờ Tiến Quận công Lê Văn Hiểu đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Ông Lê Đình Hồng, người họ Lê trông coi di tích, chia sẻ: “Tiến Quận công Lê Văn Hiểu là vị tướng tài, cuộc đời cụ dẫu nhiều vất vả song vẫn dành sự quan tâm, đóng góp xây dựng quê hương, bởi vậy mà được dân làng quý trọng, tôn làm phúc thần, đời nối đời thờ phụng. Hằng năm vào này kỵ (giỗ) cụ vào 15 tháng 10 (âm lịch), con cháu trong dòng họ và dân làng lại tề tựu về đền thờ dâng hương, tưởng nhớ”.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong các sách: Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2026; Việt Nam sử lược, NXB Kim Đồng, 2023; cùng một số tài liệu lưu giữ tại địa phương).






























