Phát triển mô hình kinh tế mới trong hệ sinh thái đô thị

Dự thảo Luật Phát triển đô thị đề cập đến nhiều mô hình kinh tế mới như khu thương mại tự do (FTZ), khu logistics tích hợp, khu phi thuế quan, kinh tế biển, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC)... Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận này là mở ra khả năng tổ chức lại không gian phát triển và trao cho TPHCM quyền tự chủ lớn hơn, phù hợp với vị thế đô thị đặc biệt, đủ sức cạnh tranh với những đô thị lớn của các nước trong khu vực.

Tạo hành lang pháp lý ổn định, dễ dự báo

Những mô hình này được đặt trong tầm nhìn về một hệ sinh thái đô thị tích hợp hoàn chỉnh, trong đó FTZ gắn với cảng biển, cảng hàng không, kết nối với VIFC, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ cùng những trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, dữ liệu, nghiên cứu và phát triển.

Với không gian phát triển mới sau hợp nhất, TPHCM có điều kiện kết nối cụm cảng Cái Mép - Thị Vải với các khu công nghiệp ở khu vực Bình Dương trước đây, VIFC tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, sân bay Long Thành và các hành lang sản xuất của vùng Đông Nam bộ, qua đó hình thành một hệ sinh thái phát triển có tính liên kết và bổ trợ lẫn nhau. Việc thể chế hóa các cơ chế trong luật sẽ tạo hành lang pháp lý ổn định, dễ dự báo hơn, qua đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư chiến lược.

 Khu vực dự kiến hình thành FTZ, gần hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải. ẢNH: THÀNH HUY

Khu vực dự kiến hình thành FTZ, gần hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải. ẢNH: THÀNH HUY

Một bước tiến đáng ghi nhận của dự thảo luật là mạnh dạn đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. HĐND thành phố có thẩm quyền quy định cơ chế quản lý, ưu đãi và tạo thuận lợi thương mại đối với FTZ và khu logistics tích hợp; Chủ tịch UBND thành phố được quyết định thành lập, điều chỉnh ranh giới, mục tiêu, chức năng và các nội dung liên quan.

Thành phố còn được thí điểm cơ chế mới, điều chỉnh tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược; quy định việc không tiếp tục hưởng ưu đãi, bồi hoàn ưu đãi đã nhận khi nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện, cam kết; ban hành một số khoản phí, lệ phí và chủ động hơn trong phân bổ nguồn lực.

Đối với khu phi thuế quan, dự thảo nới lỏng một số biện pháp quản lý ngoại thương và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Với FTZ, doanh nghiệp được niêm yết, báo giá, định giá hợp đồng và thanh toán bằng ngoại tệ trong giao dịch nội khu. Những quy định này cho thấy dự thảo bước đầu hình thành khung thể chế riêng cho các không gian kinh tế mới.

Tuy nhiên, dự thảo đã có nguyên tắc áp dụng pháp luật và quy định chuyển tiếp đối với các cơ chế, dự án hiện hữu, nhưng chưa làm rõ việc bảo lưu ưu đãi và quyền lợi đã xác lập trong suốt thời hạn dự án khi chính sách thay đổi; thời gian thích ứng và cách xử lý thiệt hại phát sinh; cũng như cơ chế xử lý khi thành phố và các cơ quan trung ương có cách hiểu khác nhau. Những vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với mô hình VIFC và FTZ.

Khi quyết định đầu tư vào các nền kinh tế mới nổi, điều nhà đầu tư lớn quan tâm là tính ổn định của pháp luật, hiệu lực hợp đồng và cam kết bảo vệ quyền tài sản. Kinh nghiệm của nhiều nước, nhất là Singapore, cho thấy một thể chế minh bạch, ổn định và dễ dự báo có giá trị hơn những ưu đãi thuần túy.

Do đó, thiết nghĩ dự luật cần quy định rõ nguyên tắc ổn định chính sách, bảo lưu quyền lợi hợp pháp và xử lý chuyển tiếp. Nếu Nhà nước phải điều chỉnh chính sách vì mục tiêu quản lý vĩ mô hoặc lợi ích công cộng thì cần có khoảng thời gian thích ứng hợp lý và có phương án xử lý các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp đã phát sinh.

Trao quyền thực chất, mở rộng không gian phát triển

Đối với FTZ và những không gian kinh tế tích hợp, nên có một đầu mối đủ thẩm quyền xử lý thủ tục liên ngành, có quyền điều phối và quyết định đối với các vấn đề về đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, hải quan, lao động, xuất nhập cảnh, ngoại hối, cấp phép tài chính... Ranh giới thẩm quyền nên được xác định theo phạm vi tác động và mức độ rủi ro. Trung ương quản lý những vấn đề có ảnh hưởng quốc gia như chính sách tiền tệ, an toàn hệ thống tài chính, dự trữ ngoại hối, phòng chống rửa tiền, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và nghĩa vụ quốc tế.

TPHCM được chủ động tổ chức không gian phát triển, xây dựng mô hình quản trị nội khu, mô hình liên kết, tiêu chí lựa chọn dự án, thủ tục đầu tư; phát huy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và cấp phép đối với những hoạt động có rủi ro được khoanh vùng. Nói cách khác, Trung ương đặt ra khuôn khổ, nguyên tắc chung và thực hiện giám sát; thành phố chủ động lựa chọn công cụ thực thi và chịu trách nhiệm về kết quả.

Đối với phân cấp tài khóa và tài chính đô thị, dự thảo đã mở rộng quyền của TPHCM trong quyết định chi tiêu, ban hành một số khoản phí, lệ phí, khai thác nguồn lực đô thị và huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, tư duy phân cấp chưa thật sự dứt khoát khi thành phố chưa có công cụ thuế địa phương đủ ổn định, trong khi nhu cầu chi tiêu rất lớn. Luật nên mạnh dạn cho phép TPHCM áp dụng một số khoản phụ thu trong khung do Trung ương quy định, qua đó gắn quyền huy động nguồn lực với trách nhiệm cung cấp dịch vụ và đầu tư phát triển.

Với những khoản thuế ngoại thương phát sinh từ hoạt động của FTZ, trong giai đoạn đầu nên cho phép giữ lại một phần để bổ sung cho Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt, qua đó tái đầu tư hạ tầng trong khu và những dự án kết nối vùng. Nguồn lực này không chỉ phục vụ TPHCM mà còn tạo lợi thế cho các địa phương cùng khai thác hệ thống cảng biển, logistics, giao thông và chuỗi cung ứng liên vùng. Vì vậy, cơ chế phân chia và sử dụng nguồn thu nên phản ánh đúng phạm vi hưởng lợi, đồng thời khuyến khích các địa phương phối hợp đầu tư và cùng chịu trách nhiệm đối với những dự án hạ tầng chung.

Một vấn đề nữa cũng không thể không nhắc đến, đó là thiết kế cụ thể hơn một cơ chế giải quyết tranh chấp theo chuẩn mực quốc tế. Có thể thành lập trung tâm trọng tài chuyên biệt, lựa chọn trọng tài viên quốc tế và áp dụng thủ tục khẩn cấp. Việc công nhận và thi hành phán quyết phải nhanh, minh bạch và dễ dự báo.

Dự thảo Luật Phát triển đô thị là bước tiến quan trọng, thể hiện tư duy đổi mới trong cải cách thể chế và mở rộng không gian để TPHCM phát huy tiềm năng, lợi thế. Thành công của các mô hình mới sẽ được quyết định bởi năng lực thực thi, chất lượng quản trị, tính ổn định của chính sách và mức độ phân quyền thực chất.

Về ngoại hối, luật nên tạo điều kiện để thành viên VIFC và doanh nghiệp trong FTZ mở tài khoản đa tiền tệ, thanh toán xuyên biên giới, quản lý ngân quỹ tập trung và phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đi kèm yêu cầu nghiêm ngặt về nhận diện khách hàng, phòng, chống rửa tiền, báo cáo giao dịch và an toàn tài khoản vốn.

Thuế và hải quan cần đơn giản, ổn định, được số hóa toàn diện. Ưu đãi nên gắn với kết quả đầu ra như tạo việc làm chất lượng cao, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Hải quan cần chuyển mạnh sang quản lý theo mức độ rủi ro, khai báo một lần, tăng kiểm tra sau thông quan và chia sẻ dữ liệu.

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/phat-trien-mo-hinh-kinh-te-moi-trong-he-sinh-thai-do-thi-post866620.html