Vòng tay lớn mãi để nối sơn hà...
Thời gian có làm phai mờ dấu vết chiến tranh nhưng ký ức hào hùng vẫn in đậm trong trí nhớ những người có mặt trong thời khắc lịch sử 50 năm trước. Nhắc nhớ câu chuyện ấy tiếp thêm ngọn lửa truyền cảm hứng, biến niềm tin và tự hào thành động lực dựng xây Tổ quốc hôm nay.
Cờ giải phóng tung bay
Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những người lính năm xưa gặp lại nhau tay bắt mặt mừng. Với giọng đầy tự hào, họ cùng nhau kể câu chuyện trước thời khắc cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975. Trong số ấy có một người đàn ông nhỏ bé, lưng hơi gù, khuôn mặt dí dỏm, nụ cười lúc nào cũng thường trực. Ông là Phạm Duy Đô, người con quê lúa Thái Bình, một trong những người lính đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập, dẫn đường cho xe tăng của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận, tham gia bắt giữ Tổng thống Dương Văn Minh và nội các.
Nhắc đến kỷ niệm đời quân ngũ, ông bồi hồi kể lại dấu mốc cuối năm 1973. Thượng tướng Trần Văn Trà khi ấy là Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam và Trung đoàn trưởng Võ Tấn Sỹ trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Duy Đô cùng hai chiến đấu viên xuất sắc là Đỗ Đức Tốc và Lê Huy Hoạt, đột nhập nội thành Sài Gòn. Được sự giúp đỡ của cơ sở cách mạng nội thành, tổ trinh sát lợi dụng hệ thống cống ngầm để bí mật điều tra, nghiên cứu các mục tiêu quan trọng, thu thập thông tin và vẽ sơ đồ chi tiết Dinh Độc Lập. Sau nhiều ngày “xuất quỷ nhập thần”, ba thành viên đã hoàn thành nhiệm vụ, cung cấp những thông tin quý giá chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Những người lính năm xưa kể lại thời khắc phất cờ tại Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975. Ảnh: BTHN
Hơn một năm sau, cuộc tổng tấn công giải phóng miền Nam bắt đầu. Cuối tháng 4.1975, Phạm Duy Đô là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 116 của Binh chủng Đặc công tiếp tục nhận nhiệm vụ quan trọng. Ngày 26.4, đại đội của ông gồm 24 chiến sĩ đặc công tập kích kho xăng An Bình, đánh tan một trung đoàn của địch. Sau đó, ngày 27 - 29.4, ông Đô chỉ huy lực lượng phối hợp cùng đơn vị khác của Trung đoàn đặc công 116 đánh chiếm, chốt giữ một đầu cầu Đồng Nai trên hướng xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn.
Rạng sáng 30.4.1975, các chiến sĩ đặc công bộ và nước tập trung đánh chiếm cầu Đồng Nai, mở đường cho đại quân giải phóng. Được thông tuyến, đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203 (Quân đoàn 2) rầm rập thẳng tiến. Trung đoàn đặc công 116 để lại một lực lượng giữ cầu, còn lại tốc chiến cùng đoàn xe tăng vào nội đô Sài Gòn. Vì nắm rõ địa bàn chiến lược của địch trong lòng Sài Gòn nên đại đội của ông Phạm Duy Đô được chia thành hai mũi, trực tiếp dẫn đường cho xe tăng của đại quân tiến thẳng tới Dinh Độc Lập. Trong đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203, hai chiếc xe tăng số hiệu 390 và 843 (Đại đội 4) đã tới dinh đầu tiên.
“Khúc cua đưa xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập là khúc cua đẹp nhất của đời tôi” - cựu chiến binh Nguyễn Văn Tập, người cầm lái xe tăng 390 xúc động nhớ về thời khắc lịch sử. Kíp chiến đấu xe tăng 390 gồm Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, lái xe Nguyễn Văn Tập, pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên và pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng (hiện đã qua đời). Theo dòng hồi tưởng về buổi trưa lịch sử, ông Toàn cho biết đại đội của ông lúc này có 8 xe vào nội đô để chiến đấu. Xe tăng 843 của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận là xe đầu tiên đi vào đường Lê Duẩn (hiện nay), tới Dinh Độc Lập thì rẽ sang cổng phụ bên trái và dừng lại trước cổng, đi liền sau đó là xe tăng 390.
Khi thấy xe tăng của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận dừng lại phía trước, lái xe tăng 390 Nguyễn Văn Tập xin ý kiến, ông Vũ Đăng Toàn ra lệnh: “Cứ tông thẳng vào”. Ngay lập tức, xe tăng 390 phi vào hướng cổng chính Dinh Độc Lập, tiến vào tiền sảnh. Ông Vũ Đăng Toàn nhớ lại: “Theo hiệp đồng tác chiến, ai vào trước, đơn vị nào vào trước, dù có hy sinh cũng phải cắm cờ. Tôi cầm cờ, định nhảy xuống thì đồng chí Lê Văn Phượng báo rằng anh Thận cầm cờ chạy đằng sau rồi. Tôi nhanh chóng túm lấy khẩu AK trên xe rồi nhảy xuống để chi viện, bảo vệ cho anh Thận lên cắm cờ. Đúng 11 giờ 30, cờ được kéo lên cột cờ chính trước ban công”.
Sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, xe tăng 843 cũng tiến vào. Ông Phạm Duy Đô kể lại, khi xe dừng, ông và đồng đội nhảy xuống, lao lên ban công, rút lá cờ trong túi ra phất báo hiệu cho các xe tăng tiến vào, cắm cờ trên đó rồi xuống dưới. “Khi tôi kéo rèm ra thì phát hiện Tổng thống Dương Văn Minh và nội các đang trong phòng họp, chúng tôi hô vang: Các ông đã bị bắt, hàng thì sống, chống thì chết. Ngay lúc đó đồng chí Phạm Xuân Thệ (Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2) ôm súng AK đứng trước cửa không cho Dương Văn Minh và nội các chống trả hay bỏ trốn. Tôi chạy ra ngoài ra hiệu cho Trung đoàn 116 tiến vào yểm trợ bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh và nội các”.
Nước mắt tuôn trào vì hạnh phúc
Khoảnh khắc lá cờ giải phóng tung bay trên Dinh Độc Lập, ai nấy rưng rưng xúc động. Giây phút lịch sử đó có mặt kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, thành viên cụm điệp báo A10 đang hoạt động dưới danh nghĩa của lực lượng thứ ba và Phật giáo. Ông kể vào khoảng đầu giờ chiều 30.4, ông cùng một số đồng chí được giao nhiệm vụ dẫn chương trình phát thanh tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. “Sau băng ghi âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh là lời Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Văn Tùng. Tiếp đến, chúng tôi tổ chức chương trình thông báo các chính sách của chính quyền cách mạng lâm thời và kêu gọi các giới đến lên tiếng trên làn sóng phát thanh”…
Với chất giọng chắc, khỏe, thành viên cụm điệp báo A10 năm xưa cất tiếng hát: Rừng núi dang tay nối lại biển xa/ Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà/ Mặt đất bao la anh em ta về/ Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối trọn một vòng Việt Nam… “Bài hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chính là bài hát đầu tiên được phát trên Đài phát thanh Sài Gòn sau giây phút chính quyền Ngụy tuyên bố đầu hàng. Khi ấy, anh Trịnh Công Sơn cũng có mặt, bắt nhịp cho mọi người hát không cần nhạc đệm… Thật kỳ lạ, bài hát sáng tác từ năm 1968 nhưng lại như để dành cho ngày thống nhất”, ông Nguyễn Hữu Thái nhớ lại.
Niềm vui giải phóng, thống nhất đất nước ngập tràn trong trái tim mọi người, nhất là những người lính giải phóng. Ông Nguyễn Văn Tập kể sau khi xe tăng 390 tiến vào Dinh Độc Lập, các xe còn lại của Đại đội 4 cũng vào bên trong. Tiếp đến, xe tăng của binh chủng tăng thiết giáp theo 5 cánh quân cũng tràn về. Thời khắc đó, đường phố tràn ngập cờ, hoa. Ngay trong sân của Dinh Độc Lập, anh em vui mừng ôm nhau, nước mắt cứ tuôn trào vì hạnh phúc.
Nhìn ánh mắt lấp lánh của những người lính năm xưa, đạo diễn, nhà quay phim, NSƯT Phạm Việt Tùng thốt lên: “Tôi đã dành cả cuộc đời để ghi lại niềm hạnh phúc ấy”. Đi qua hai cuộc chiến, ở tuổi gần 90, vẫn giữ giọng nói hào sảng và nhiệt huyết, NSƯT Phạm Việt Tùng say sưa kể về thời vác máy quay trên vai… Ngày 30.4.1975, ông cùng đoàn quân tiến về Sài Gòn thì bị vật cản là đồ đạc, ba lô, súng ống… quân đội cũ bỏ lại nên không kịp tới Dinh Độc Lập đúng cuộc chuyển giao. Cảnh xe tăng của ta nghiến lên lá cờ 3 sọc của Ngụy quyền là thước phim đầu tiên ông quay về ngày đầu giải phóng. Những thước phim gói gọn cảm xúc của người dân trong thời khắc lịch sử. Có người cười, cũng có người khóc. Đặc biệt, trên gương mặt sinh viên Sài Gòn - Gia Định đều ánh lên niềm sung sướng, tự hào…
“Khi đến Dinh Độc Lập, tôi xúc động và hạnh phúc vô cùng vì biết mình đã không chết. Song hơn tất cả, có đau thương, mất mát, nhưng cuối cùng, dân tộc ta vẫn chung một niềm vui thống nhất”, ông Phạm Việt Tùng xúc động nói.