Tự chủ đại học: Đừng để học phí trở thành rào cản

Tự chủ đại học là xu hướng tất yếu nhưng cần cân nhắc để học phí không trở thành rào cản đối với sinh viên có năng lực. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để duy trì cơ hội học tập cho mọi người trẻ trong bối cảnh tự chủ...

Trong bức tranh tổng thể của giáo dục đại học Việt Nam, tự chủ không còn là mục tiêu cần tranh luận, mà đã trở thành xu thế tất yếu. (Ảnh: D. Ngân)

Trong bức tranh tổng thể của giáo dục đại học Việt Nam, tự chủ không còn là mục tiêu cần tranh luận, mà đã trở thành xu thế tất yếu. (Ảnh: D. Ngân)

Niềm tin trong một trường đại học tự chủ

Mỗi mùa tuyển sinh, phía sau những lựa chọn về ngành học, trường học của thí sinh luôn tồn tại một vấn đề rất đời thường, đó là tiền học phí. Với một số gia đình, học phí là khoản chi có thể chủ động sắp xếp. Nhưng với không ít gia đình, đó là một khoản chi lớn, kéo dài và luôn đi kèm những khoản phát sinh khó tính trước. Chỉ cần thu nhập giảm, một người mất việc, gia đình có người đau ốm hoặc cùng lúc có hai, ba người con đi học, bài toán ấy lập tức trở nên chật vật.

Trong bối cảnh đó, câu chuyện kiểm soát học phí đại học không đơn thuần là chuyện một con số tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm. Đó là câu chuyện về cơ hội tiếp cận giáo dục và cũng là cách xã hội nhìn nhận về ý nghĩa của tự chủ đại học.

Tự chủ xét cho cùng là để trường đại học có thêm khả năng quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Một cơ sở giáo dục khó có thể nâng chất lượng nếu từ tuyển dụng nhân sự, tổ chức đào tạo đến đầu tư nghiên cứu đều phải đi qua quá nhiều tầng nấc hành chính.

Một trường muốn giữ được giảng viên giỏi phải có cơ chế đãi ngộ phù hợp. Muốn phát triển nghiên cứu phải có tiền cho phòng thí nghiệm, dữ liệu, thiết bị và thời gian nghiên cứu. Muốn chương trình đào tạo theo kịp nhu cầu xã hội cũng cần nguồn lực để cập nhật, hợp tác và thử nghiệm.

Vì thế, tự chủ đại học là một hướng đi cần thiết. Nhưng tự chủ không nên được hiểu theo nghĩa Nhà nước giảm đầu tư, còn trường đại học chủ yếu tìm cách tăng nguồn thu từ người học. Nếu nguồn thu dễ huy động nhất vẫn là học phí, thì rất dễ xảy ra một nghịch lý: Trường được trao thêm quyền tự chủ nhưng áp lực tài chính lại được chuyển dần từ ngân sách sang vai phụ huynh. Khi ấy, câu hỏi không còn là trường có tự chủ hay không, mà là tự chủ để làm gì và ai đang phải trả giá cho quá trình đó.

Học phí tăng không phải là điều bất hợp lý. Nếu người học được học trong một chương trình tốt hơn, có giảng viên chất lượng hơn, điều kiện thực hành đầy đủ hơn và cơ hội việc làm rộng mở hơn, việc tăng chi phí có thể có lý do để thuyết phục xã hội. Điều đáng nói, mức học phí cao hơn phải đi cùng chất lượng đào tạo thay đổi thế nào, người học nhận lại những gì và nhà trường đã làm gì để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Sự minh bạch không phải một yêu cầu mang tính hình thức. Đó là nền tảng của niềm tin trong một trường đại học tự chủ.

Nếu học phí tăng nhưng người học vẫn phải tự chi trả nhiều cho học liệu, thực hành, dịch vụ hoặc những khoản cần thiết khác; nếu nhà trường chưa minh bạch việc tăng thu, sự băn khoăn của phụ huynh và sinh viên là điều dễ hiểu. Bởi điều một gia đình phải lo không chỉ là học phí ghi trong thông báo. Tổng chi phí để một người trẻ theo học còn bao gồm nhiều khoản khác, từ ăn ở, đi lại đến tài liệu, thực hành và những chi phí liên quan đến quá trình học tập. Vì vậy, quản lý học phí cần được nhìn trong tổng thể chi phí học đại học, thay vì chỉ nhìn vào con số ở đầu mỗi học kỳ.

Thí sinh dự thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Quỳnh Trần)

Thí sinh dự thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Quỳnh Trần)

Cánh cửa đại học cần mở rộng hơn...

Các chính sách về trần học phí, miễn giảm, học bổng và tín dụng ưu đãi là những lớp bảo vệ cần thiết. Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về trần học phí, miễn, giảm và hỗ trợ chi phí học tập; cùng với đó là các chính sách hướng tới người học ở một số lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược. Những chính sách ấy cho thấy bài toán tài chính của người học không bị bỏ mặc. Nhưng chính sách hỗ trợ sẽ khó bao phủ hết những hoàn cảnh nằm giữa các nhóm đối tượng.

Đó là những gia đình không thuộc diện nghèo để nhận được nhiều chính sách hỗ trợ nhưng thu nhập cũng không đủ dư dả để việc đóng học phí hàng chục triệu đồng mỗi năm trở nên dễ dàng. Đó có thể là một gia đình có cha mẹ làm lao động tự do, một công nhân nuôi con ăn học, một cặp vợ chồng trẻ vừa trả tiền nhà vừa lo cho hai con, hay một gia đình đang phải cùng lúc gánh nhiều khoản chi.

Khi biến cố xảy ra đối với những gia đình ấy thì điều bị ảnh hưởng đầu tiên đôi khi lại là việc học của con em. Đây là khoảng trống cần được nhìn nhận nghiêm túc khi thiết kế chính sách tài chính cho giáo dục đại học. Không phải mọi gia đình có thu nhập trên một ngưỡng nhất định đều có khả năng chi trả giống nhau. Một hộ gia đình có một người con đi học rất khác với hộ có ba người con cùng học. Một gia đình có thu nhập ổn định cũng khác hoàn toàn gia đình sống bằng những công việc bấp bênh. Bởi vậy, chính sách hỗ trợ người học cần linh hoạt hơn, hướng tới khả năng chi trả thực tế thay vì chỉ dựa vào một vài tiêu chí cứng.

Ở phía Nhà nước, điều quan trọng không kém là phải tiếp tục đầu tư cho những lĩnh vực mà thị trường khó tự bảo đảm nguồn lực. Đào tạo giáo viên, khoa học cơ bản, văn hóa, nông nghiệp, môi trường hay một số lĩnh vực y tế đều mang lại lợi ích vượt ra ngoài phạm vi một người học hay một trường đại học.

Một sinh viên theo học khoa học cơ bản không chỉ đầu tư cho tương lai của chính mình. Xã hội cũng cần những nhà khoa học ấy. Một sinh viên học sư phạm không chỉ tạo ra lợi ích cho cá nhân mà còn góp phần tạo nên chất lượng của các thế hệ học sinh sau này.

Nếu Nhà nước đặt hàng đào tạo, nguồn kinh phí cũng phải đi cùng trách nhiệm về chất lượng và kết quả đầu ra. Không thể giao nhiệm vụ cho trường nhưng để trường tự xoay xở với nguồn lực hạn chế, rồi cuối cùng lại quay về bài toán học phí.

Ở phía các trường đại học, tự chủ cũng đồng nghĩa với trách nhiệm tìm kiếm những nguồn lực khác. Một trường đại học có thể phát triển nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức các chương trình đào tạo phù hợp, xây dựng quỹ từ cựu sinh viên và khai thác hợp lý nguồn lực, tài sản được giao. Khi nguồn thu được đa dạng hóa, học phí sẽ bớt trở thành chiếc van dễ mở nhất mỗi khi trường cần thêm tiền.

Một trường tự chủ nhưng phần lớn nguồn thu vẫn phụ thuộc vào học phí thì mới chỉ giải được một nửa bài toán. Và trước khi yêu cầu người học đóng thêm, nhà trường cũng cần tự hỏi mình đã sử dụng đồng tiền hiện có hiệu quả đến đâu.

Người học có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Gia đình chia sẻ một phần chi phí, trong khi nhà trường phải sử dụng hiệu quả nguồn lực và tạo ra chất lượng tương xứng. Doanh nghiệp có thể tham gia nhiều hơn vào đào tạo và nghiên cứu. Còn Nhà nước phải giữ vai trò kiến tạo, đầu tư và bảo đảm những lợi ích công mà thị trường không thể tự mình cung cấp đầy đủ. Đó mới là tinh thần của một nền đại học cùng chia sẻ trách nhiệm.

Tự chủ đại học không nên được nhớ đến như câu chuyện về những mức học phí ngày càng cao. Giá trị của tự chủ phải nằm ở một trường đại học mạnh hơn, đội ngũ giảng viên có điều kiện làm nghề tốt hơn, môi trường nghiên cứu năng động hơn và chất lượng đào tạo được cải thiện thực chất. Nhưng có một thước đo khác cũng quan trọng không kém, đó là một học sinh giỏi lớn lên trong gia đình khó khăn vẫn có thể bước qua cánh cửa đại học.

Nếu cánh cửa ấy ngày càng hẹp đối với người nghèo thì dù những con số về nguồn thu, cơ sở vật chất hay mức độ tự chủ có đẹp đến đâu, xã hội vẫn có quyền đặt câu hỏi về ý nghĩa cuối cùng của sự phát triển ấy. Đại học tự chủ cần mạnh để đi xa hơn nhưng một nền đại học tốt cũng phải đủ rộng để không bỏ lại những người trẻ chỉ vì gia đình các em không đủ tiền.

Bảo Thoa

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/tu-chu-dai-hoc-dung-de-hoc-phi-tro-thanh-rao-can-439385.html