Thẻ thuế thân - Chứng tích một thời kỳ lịch sử
Thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, thuế thân là một trong những loại thuế chính ngạch của chính quyền thực dân phong kiến. Ngày nay, những chiếc thẻ thuế thân (thẻ đinh) lưu giữ, trưng bày trong các Bảo tàng không chỉ phản ánh chính sách cai trị của chính quyền thực dân, phong kiến xưa kia mà còn là chứng tích lịch sử của một thời đã qua.
Thuế thân còn được gọi là “thuế đinh” vì đây là loại thuế áp dụng đối với các “dân đinh” – nam giới đến tuổi trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên), bắt đầu phải thực hiện nghĩa vụ với làng xã trong xã hội phong kiến. Thời Pháp thuộc, thuế thân trở thành nỗi ám ảnh của nhiều gia đình, đặc biệt là những người dân nghèo khổ.
Thuế thân và thân phận của người dân mất nước
Ngày 2/6/1897, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Paul Doumer ra Nghị định về chính sách thuế thân đối với người dân Bắc Kỳ trong đó quy định: “Thuế thân đánh vào người từ 18 đến 60 tuổi. Tất cả những ai trong diện đóng thuế đều phải có thẻ thuế thân”. Nhà nước bảo hộ cũng quy định cụ thể các đối tượng được miễn thuế, chủ yếu là chức sắc, viên chức trong bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến. Thuế thân được tính theo đầu người (gọi là các suất đinh), định mức thuế thay đổi theo quy định của chính quyền, có khi phân hạng giàu, nghèo nhưng có lúc đánh đồng không phân biệt điều kiện kinh tế khiến cho các gia đình nghèo khổ, không có tài sản rất cơ cực. Thông thường, ở các làng xã đều lập sổ đinh ghi tên những người đến tuổi đóng thuế ở địa phương mình để quản lý, tổ chức thu thuế hàng năm. Sau khi nộp thuế mỗi người sẽ được cấp một chiếc thẻ gọi là thẻ đinh hoặc thẻ thuế thân. Để ngăn chặn việc dùng thẻ cũ, chính quyền bảo hộ quy định mỗi năm một màu khác nhau để dễ bề kiểm soát.

Thẻ thuế thân chính quyền Thực dân phong kiến cấp cho nhân dân Lạng Sơn các năm 1931, 1935, 1944
Đối với chính quyền thực dân phong kiến, thẻ thuế thân được coi là một trong những công cụ để quản lý việc thu thuế. Chúng kiểm soát rất gắt gao, coi đó như một loại giấy thông hành trong quản lý hành chính. Mỗi khi ra đường, các dân đinh đều phải mang thẻ trong người, ai không mang mà khi khám xét bị phát hiện sẽ bắt giam, phải nộp phạt mới được thả. Những trường hợp chưa đóng thuế, mượn thẻ cũng bị phạt rất nặng. Với người dân Việt Nam khi đó, thuế thân là thứ thuế rất nặng nề bởi thu nhập bình quân của người dân rất thấp. Theo các tư liệu sử, Nghị định ngày 20/8/1920 quy định mỗi suất đinh ở Bắc Kỳ đóng 2,5 đồng bạc Đông Dương - tương đương với số thóc dùng để nuôi một người trong khoảng ba tháng. Nhiều người đã phải bán gia sản, vay lãi của nhà giàu để đóng thuế, lãi mẹ đẻ lãi con khiến cuộc sống của họ bế tắc, không có lối thoát. Cuộc sống của người dân Việt Nam vô cùng cực khổ vì thuế khóa nặng nề, mất quyền tự do.
Chứng tích một thời kỳ lịch sử
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập, động thái đầu tiên trong chính sách tài chính, kinh tế của Chính phủ lâm thời dân chủ Cộng hòa là ban hành Sắc lệnh số 11/SL, ngày 7/9/1945 quy định bãi bỏ thuế thân do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký. Trong đó nêu rõ: “Thuế thân là một thứ thuế vô lý, trái ngược với tinh thần chính thể cộng hòa dân chủ”; chế độ thuế khóa nói chung cần được cải cách để “đỡ gánh nặng cho dân chúng và hợp với công lý”. Điều này đã mang lại niềm vui lớn cho toàn thể nhân dân Việt Nam vì từ đây, cuộc sống của người dân không còn bị trói buộc bởi chiếc thẻ thuế thân. Đó thực sự là lợi ích thiết thực nhân dân được thụ hưởng từ chế độ mới nên nhân dân vô cùng phấn khởi, tràn đầy tin tưởng vào Chính quyền Cách mạng.
Là một trong những vật chứng của lịch sử nên thẻ thuế thân là loại hiện vật luôn được các Bảo tàng quan tâm sưu tầm, gìn giữ. Ông Nông Đức Kiên – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn cho biết: “Trong những năm qua, Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn đã sưu tầm được 40 chiếc thẻ thuế thân từ nhiều nguồn khác nhau. Những chiếc thẻ này do chính quyền Thực dân - phong kiến cấp cho nhân dân Bằng Mạc, Bắc Sơn, Văn Uyên… từ năm 1923 đến năm 1944. Bộ sưu tập thẻ thuế thân ở Bảo tàng tỉnh hiện nay là sưu tập hiện vật rất có giá trị phản ánh chân thực lịch sử của Lạng Sơn những năm trước Cách mạng Tháng Tám. Qua đó cho chúng ta thấy được chính sách áp bức, bóc lột của Thực dân phong kiến đối nhân dân Việt Nam và ý nghĩa lớn lao của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Những chiếc thẻ thuế thân lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn được làm bằng giấy bìa mềm hình chữ nhật, kích thước 21cm x 8,3 cm, có màu trắng, xanh, vàng hoặc hồng nhạt... Chữ viết trên thẻ bằng cả tiếng Pháp, chữ Hán, Nôm và chữ Quốc ngữ. Trên cùng của mặt trước có dòng chữ “PROTECTORAT DU TONKIN” và 北 圻 保 護 (Xứ Bảo hộ Bắc Kỳ), năm phát hành thẻ. Bên dưới ghi tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp của người đóng thuế, mức thuế phải nộp. Ở cạnh trái phía dưới có một khung hình chữ nhật ghi dòng chữ Nôm kèm theo chữ Quốc ngữ với nội dung:“Người có thẻ phải mang luôn trong mình”. Mặt sau cũng ghi năm phát hành thẻ, tên, địa chỉ của chủ thẻ bằng chữ Hán ở bên trái, bên phải là số thẻ của tỉnh Lạng Sơn, chữ ký và dấu của lý trưởng, điểm chỉ của người được cấp thẻ... Qua đó cho chúng ta biết những thông tin chân xác về địa danh hành chính của Lạng Sơn thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, định mức thuế thân các năm…
Những chiếc thẻ thuế thân của Nhân dân Lạng Sơn được trưng bày trong Bảo tàng luôn gợi nhớ những năm tháng đau thương của quê hương đất nước khiến mỗi chúng ta càng thấy trân trọng hơn niềm hạnh phúc của tự do, độc lập.
