Thân và Tâm
NSGN - Hãy bắt đầu khi những thứ ấy vẫn còn ở rất xa. Hãy làm bổn phận của mình khi chúng vẫn còn ở xa. Chúng giống như con rắn độc.
- Ajahn Chah (1918-1992) là một vị cao tăng Phật giáo người Thái Lan, thuộc dòng tu khổ hạnh trong rừng của Thượng tọa bộ. Ngài là học trò của Trưởng lão Ajahn Mun. Vào ngày 23-8-1978, Sanya Dhammasak, Chánh Thượng nghị viện, cùng gia đình đã đến thăm Wat Nong Pa Pong để tỏ lòng tôn kính ngài Ajahn Chah. Trong cuộc trò chuyện về Pháp, Ajahn Chah đã có một bài pháp thoại được ghi chép và dịch ở đây.
- Tỳ-kheo Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một Tăng sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan. Sư là một dịch giả, người viết năng nổ. Nhiều tác phẩm của Sư có thể được tìm thấy trên mạng: www.accesstoinsight.org.
Nếu ta thấy nó từ xa, ta sẽ không sợ. Dù nó có độc, ta cũng không sợ vì ta thấy nó trước. Nhưng nếu ta chạm mặt nó khi không còn đủ thời gian để suy nghĩ… Với cảm thọ cũng giống như vậy. Con phải luôn quán chiếu, luôn thiền định để có thể diệt trừ chúng. Con phải bắt đầu khi chúng còn ở rất xa, và cứ tiếp tục quán chiếu. Điều này có nghĩa là con phải bắt đầu trước khi cảm thọ phát khởi, hay con bắt đầu khi cảm thọ đã khởi lên rồi? Không. Phải trước khi có cảm thọ. Giống như niệm chết vậy. Ta luôn nghĩ về cái chết. Nhưng niệm chết và cảm thọ không giống nhau.
Khi cái chết đến, thì ta chỉ đơn giản chết. Nhưng với cảm thọ, chúng đối đầu với ta. Chúng bất ngờ tấn công ta; ngay lúc này chúng đang đánh nhau với ta. Con và chúng đang đối đầu nhau. Còn với niệm chết, thì con đã chết rồi.
Nếu có một cảm thọ thật mạnh… Dù nó đi xa đến mức nào cũng không quan trọng. Hoặc dù nó đến từ hướng nào, hãy chú tâm vào thân và tâm. Hãy chú tâm vào hai thứ này, rồi mọi thứ khác sẽ tụ lại ngay đó.
Để sự tu tập của con được đúng, để con biết điều đúng, sai, thì tất cả phải quay về thân và tâm. Thân và tâm là thứ dẫn ta đến lạc hay khổ. Chúng nối kết với nhau như những mắt xích của một sợi dây. Đó là lý do vì sao sự thực hành lại vô cùng quan trọng. Việc gì cũng vậy, nếu ta đã biết hoặc đã thấy điều gì đó mà không thực hành với nó, thì cũng giống như chỉ lấy được cái vỏ.
Giả sử ta được cho một trái cây, dù nó chua hay ngọt, nếu sau khi nhận nó mà ta không ăn, nếu ta chỉ cầm nó trong tay, thì ta không biết nó chua hay ngọt. Khi chỉ cầm nó trong tay, bàn tay ta có cảm nhận được vị chua không? Không, không thể. Nó có cảm nhận được vị ngọt không? Không, cũng không thể. Dù ta đang cầm nó trong tay, ta cũng chẳng được bao nhiêu lợi ích. Ta chỉ nghe nói rằng nó chua hay nghe nói rằng nó ngọt. Ta chỉ cầm nó trong tay, nên ta không nhận được trọn vẹn lợi ích từ nó. Vì sao vậy? Vì ta chưa thực hành nó, nói cách khác, ta chưa ăn để biết được vị của nó.
Nhưng một khi ta đã ăn trái cây, chính trái cây sẽ cho ta biết vị chua hay vị ngọt, vị ngon của nó. Chỉ lúc đó ta mới thật sự biết. Khi biết theo cách ấy, ta trở thành một sakkhibhūto: người tự làm chứng cho chính mình. Khi ta còn chưa tự biết, ta chỉ có những nhân chứng bên ngoài: những người đã cho ta trái cây. Họ nói nó chua, họ nói nó ngọt, nhưng ta vẫn chưa trở thành sakkhibhūto. Sự hiểu biết ấy chưa phải của riêng ta. Ta chỉ tin vào lời người khác. Đức Phật không khen những người chỉ tin theo lời người khác. Ngài khen những người biết paccattam: tự mình biết, tự mình chứng nghiệm. Giống như với trái cây: nếu con đã tự nếm trái ấy, con không cần phải đi hỏi người khác xem nó chua hay ngọt. Vấn đề chấm dứt ngay tại đó. Vì sao chấm dứt? Vì con biết đúng theo sự thật. Con biết sự thật. Vấn đề kết thúc. Không còn khó khăn gì nữa. Khi vấn đề đã kết thúc, thì mọi chuyện đã xong. Vì sao xong? Vì con đã chạm đến sự thật; con biết nó một cách trọn vẹn, và mọi hoài nghi đều chấm dứt. Hoài nghi của con về việc nó chua hay ngọt đã chấm dứt.
Đây chính là ý nghĩa của việc biết Pháp, đạt đến Pháp: con là người đã chạm đến vị chua hay vị ngọt của trái cây. Vấn đề đã chấm dứt.
Tương tự, chúng ta có thể ví dụ như vầy. Nghe Pháp để làm cho trí tuệ khởi lên nơi bản thân. Có thể nói rằng có rất nhiều điều để giảng giải, nhưng Đức Phật chỉ dạy chúng ta biết bốn điều: biết khổ (dukkha), biết nguyên nhân của khổ, biết sự diệt khổ, và biết con đường đưa đến sự diệt khổ. Chỉ có thế thôi.
Tất cả những gì chúng ta thực hành đều quy về bốn điều này: biết khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết sự diệt khổ, và biết con đường đưa đến sự diệt khổ. Khi con biết bốn điều này một cách rõ ràng và thấu đáo, thì vấn đề chấm dứt. Bốn điều này phát sinh ở đâu? Chúng phát sinh nơi hai thứ: thân và tâm này, chỉ vậy thôi. Chúng không nằm ở đâu xa cả.
Giống như tất cả các con đến đây hôm nay: mỗi người đều mang theo một thân và một tâm trọn vẹn. Vậy tại sao Đức Phật lại phân tích Pháp rộng như thế? Là để giải thích những điều này một cách chi tiết, ở mọi khía cạnh, để chúng ta có thể lấy đó làm điểm tập trung mà quán chiếu.
Ví dụ, với thân, Ngài dạy chúng ta phân tích nó thành tóc, lông, móng, răng, da - đủ mọi thứ. Ngài dạy chúng ta phân tích nó thành từng phần để chúng ta thuần thục trong việc thấy thân đúng theo sự thật của các pháp này. Nếu không biết đúng theo sự thật, chúng ta sẽ không biết khổ, không biết nguyên nhân của khổ, không biết sự diệt khổ, và không biết con đường đưa đến sự diệt khổ. Khi không biết những điều này, chúng ta sẽ không biết các bước của sự thực hành.
Vì vậy, khi con nghe Pháp ngay trong hiện tại, mục đích chỉ là để làm cho trí tuệ biết rõ bốn điều này khởi lên. Cả bốn điều ấy đều phát sinh ngay tại thân và tâm của con. Đó là lý do Đức Phật dạy Pháp.
Pháp ở đâu? Đức Phật dạy rằng Pháp ở khắp mọi nơi. Không có chỗ nào không có Pháp. Vật chất là Pháp. Tâm thức là Pháp. Nếu thế, con phải hiểu rằng tất cả chúng ta đều sinh ra trong Pháp. Chúng ta luôn ở ngay bên cạnh Pháp. Khi đã hiểu như thế, con sẽ hiểu thêm rằng chúng ta chẳng hề xa Đức Phật. Chúng ta đang ở ngay bên cạnh Ngài. Vậy tại sao chúng ta không thấy Ngài? Vì chúng ta không thật sự quan tâm đến việc thực hành.
Pháp là Phật; Phật là Pháp. Đức Phật đã nói với Tôn giả Ananda: “Này Ananda, hãy tinh tấn thực hành, hãy luôn tu tập. Ai thấy Ta là thấy Pháp; ai thấy Pháp là thấy Ta”. Điều đó cho thấy rằng chúng ta không xa Phật, không xa Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật; ai thấy Phật là thấy Pháp. Khi Thái tử Siddhattha mới sinh ra đời, Ngài chưa phải là Phật, vì lúc ấy Ngài chưa giác ngộ Pháp. Ngài chỉ là một người phàm chưa giác ngộ, giống như chúng ta. Chỉ khi Ngài biết được những điều cần phải biết - Tứ Thánh đế: khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ - lúc đó Ngài thực hành và chứng đạt Pháp. Chỉ khi ấy Ngài mới tự xưng là Phật.
Vì vậy, khi chúng ta chứng đạt Pháp - dù ở bất cứ nơi đâu - chúng ta biết Pháp. Khi biết Pháp, chúng ta nghe được lời Phật dạy, nghe được Pháp ngay tại đó. Khi hiểu Pháp, Phật ở trong tâm chúng ta. Pháp ở trong tâm chúng ta. Những pháp tu đưa đến trí tuệ đều ở trong tâm chúng ta. Chúng ta đã thực hành bằng thân, khẩu và ý.
Khi nói, Phật, Pháp và Tăng ở trong tâm mình, chúng ta hoàn toàn tin chắc rằng dù mình làm điều thiện hay điều ác ở bất cứ đâu, tất cả đều là vấn đề của sự thật. Bất cứ nơi nào ta làm điều thiện, dù người khác không thấy, dù chẳng ai khen, hoặc người khác có chê bai, đều không vấn đề. Hành động của ta vẫn đúng. Ta thấy rằng cái đúng này phù hợp với sự thật - sự thật mà Đức Phật đã nói là chân thật. Đó là lý do Đức Phật buông bỏ thế gian: Ngài buông bỏ lời khen; Ngài buông bỏ lời chê. Ai chê Ngài, Ngài chấp nhận sự việc như chúng là. Ai khen Ngài, Ngài cũng chấp nhận sự việc là như vậy - vì cả hai thứ ấy chỉ là chuyện của thế gian. Tâm Ngài không lay động. Vì sao? Vì Ngài hiểu khổ. Cả hai điều ấy, nếu Ngài tin theo, đều sẽ làm khổ khởi lên.
Đối với khổ là như vậy: tâm bị kích động. Nó bất an. Nó rối loạn. Dù con đang ngồi, đứng, đi hay nằm, thì cũng chỉ toàn là sự xao động. Đó là khổ. Nguyên nhân nào làm phát sinh khổ? Là không biết sự vật đúng như sự thật của chúng. Vì vậy mà khổ sinh khởi. Và khi khổ sinh khởi, ta lại không biết cách chấm dứt nó. Càng cố dập tắt nó - “Đừng la tôi! Đừng ganh tị với tôi!” - thì căng thẳng càng tăng lên không dừng. “Đừng làm thế với tôi! Đừng nói thế về tôi! Đừng chỉ trích tôi!”, căng thẳng chỉ càng bị kích động mạnh hơn nữa.
Đức Phật biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ - nghĩa là chấp nhận sự thật này vào trong tâm, rằng sự việc vốn là như vậy. Tất cả những điều kia đều là chuyện bên ngoài, không phải chuyện bên trong. Sự thật về những gì ta làm, những gì ta nói, những gì ta chủ ý, không ai khác biết cả. Chỉ ta biết trong chính tâm mình. Vì vậy, khi ta biết cách trở thành sakkhibhūto - tự mình làm nhân chứng cho chính mình - Đức Phật tán thán điều đó. Khi người ta nói Ngài tốt, Ngài không bị cuốn theo. Khi họ nói Ngài xấu, Ngài cũng không đánh mất mình. Ngài độc lập theo cách đó. Tốt và xấu là chuyện của thế gian. Khi đã là chuyện của thế gian, thì chúng chỉ là những “đối tượng bận tâm”. Khi bị các đối tượng ấy tác động mà ta lung lay, thì tâm ở trong thế gian. Nó cứ nắm bắt mãi. Đó gọi là không biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ - và điều đó chỉ làm phát sinh thêm khổ.
Vậy nên nếu ta hiểu sự việc theo cách này, nghĩa là ta vẫn chưa thắng được chính mình. Ta vẫn thích thắng người khác hơn - và vì thế ta lại thua chính mình. Nhưng khi ta thắng được chính mình, ta không chỉ thắng chính mình mà còn thắng được người khác; thắng được các đối tượng bận tâm; thắng được sắc, thanh, hương, vị, xúc. Ở đây sư đang nói về những thứ bên ngoài. Nhưng ta có thể lấy những thứ bên ngoài và áp dụng vào bên trong nữa. Ta có thể áp dụng vào bên trong. Có người biết chuyện bên ngoài nhưng không biết chuyện bên trong. Ví dụ, Đức Phật dạy câu: “Quán thân trong thân”. Biết thân thôi thì chưa đủ. Ta phải biết thân trong thân nữa. Ta phải quán thân, rồi quán thân trong thân. Ta phải quán tâm, rồi quán tâm trong tâm nữa. Nếu ta xa lạ với thiền tập, ta sẽ dừng lại ngay đó. Ta sẽ không hiểu nổi câu này. Tại sao phải biết thân? Thân trong thân là gì? Và khi được dạy phải biết tâm, thì tâm đó là gì? Những thứ trong tâm là gì? Ta hoàn toàn không hiểu - bởi vì ta chưa quen với khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, hay con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Ta không chấm dứt những thứ cần chấm dứt để diệt khổ. Ta chỉ quá bận tâm với những thứ không gây ra khổ, với những thứ vốn chẳng “tác hại” gì cả.
Giống như khi có cảm giác ngứa trên đầu, bạn lại đi gãi dưới chân. Bạn gãi sai chỗ. Bạn nghĩ rằng làm vậy sẽ dễ chịu hơn, nên bạn gãi chân, dù cái ngứa nằm trên đầu. Đây gọi là không biết đúng chỗ để hết ngứa, nên nó chẳng có tác dụng. Cũng giống như khi căng thẳng khởi lên mà bạn không biết cách dừng nó lại. Bạn không biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Những điều này làm chúng ta bối rối - vì ta không nhận ra rằng mình đang hướng tâm ra bên ngoài. Sắc, thọ, tưởng, hành ở bên trong… Như những thân này của chúng ta, những thân đang ngồi tụ họp ở đây, mà ta có thể thấy bằng mắt: ta gọi chúng là “thân”. Nếu ta chỉ thấy hình tướng bên ngoài của thân thì gọi là chỉ thấy thân thô. Thấy đến đó thì không đủ để chấm dứt khổ hay nguyên nhân của khổ. Vì sao? Vì ta không thấy bên trong của thân. Ta chỉ thấy bên ngoài. Ta thấy nó đẹp, có giá trị, có bản chất gì đó - đủ thứ. Nhưng Đức Phật nói rằng thấy đến mức đó thì chưa đủ, chỉ thấy bên ngoài bằng mắt thịt như vậy. Trẻ con cũng thấy được. Thú vật cũng thấy được. Không khó. Nhưng vừa thấy là ta dính mắc vào nó. Ta thấy mà không biết. Ta thấy rồi nhào vào, và nó cắn lại ta. Chuyện là vậy.
Vì thế, ta được dạy phải quán thân trong thân, để thấy những gì có trong thân. Hãy khảo sát để xem trong thân có gì. Khi ta chỉ thấy bên ngoài, thì chưa rõ ràng. Ta thấy tóc, lông, móng, v.v. và tất cả đều đẹp. Những thứ này là thuốc nhuộm làm ô nhiễm tâm. Vì vậy Đức Phật nói rằng ta chưa thấy rõ, chưa thấy thân một cách rõ ràng. Do đó, Ngài bảo ta nhìn vào bên trong để thấy thân trong thân.
Vậy hãy nhìn xem trong thân - bên trong lớp da thịt này - có gì. Có gì ở đó? Quán sát kỹ, thăm dò vào, và bạn sẽ thấy có đủ thứ trong thân này mà con người chúng ta, khi thấy, sẽ… giật mình. Nếu ta khảo sát, ta sẽ thấy toàn là những thứ khiến ta giật mình, vì ngay trong chính thân mình cũng có những thứ ta chưa từng thấy bao giờ. Ta mang chúng theo khắp nơi ta đi. Khi lên xe, ta cũng mang chúng lên xe, nhưng ta chẳng biết chúng là gì, vì chúng được gói lại như một món quà.
Giống như ta đến nhà người thân, họ tặng ta một món quà được gói rất đẹp. Ta cầm, bỏ vào giỏ, rồi đi thẳng về nhà. Ta không mở ra xem bên trong là gì. Khi cuối cùng mở ra, ta thấy: “Ồ! Chỉ toàn là rắn độc”. Thân này cũng như vậy. Ta chỉ thấy lớp vỏ bên ngoài và nó trông đẹp, trông xinh, trông đủ thứ đến mức ta quên mất chính mình, quên vô thường, quên khổ, quên vô ngã, quên hết. Ta quên mở nó ra. Nhưng nếu ta nhìn vào bên trong, ta sẽ thấy chẳng có gì đáng nhìn - cái thân này của ta. Bỏ thứ gì sạch vào trong nó, nó cũng làm dơ.
Bên ngoài của thân thì dơ theo cách của bên ngoài; bên trong của thân cũng dơ theo cách của nó. Những gì ở bên trong thân còn tệ hơn nữa. Vậy nên hãy nhìn vào bên trong. Bên trong cái thân này của chúng ta là như thế nào? Nếu bạn nhìn đúng theo sự thật, đúng theo các Thánh đế, mà không thiên kiến, thì dù bạn nhìn bên ngoài hay bên trong thân - hãy nhìn đi, chúng thật sự đáng nhìn - bạn sẽ thấy rằng chúng đủ để khiến bạn chán nản, đủ để khiến bạn vỡ mộng, đủ để khiến bạn… đủ mọi thứ. Chúng đủ để làm khởi lên sự nhàm chán (disenchantment). Từ “nhàm chán” ở đây không có nghĩa là bạn ghét nó hay nổi giận với nó. Đó chỉ đơn giản là sự sáng tỏ: sự sáng tỏ của tâm, sự buông bỏ của tâm.
Ta thấy rằng ở đây chẳng có bao nhiêu giá trị hay tính chất. Ta thấy tất cả những thứ này chỉ là tự nhiên, bình thường. Và đó là cách chúng tự tồn tại. Dù ta muốn chúng trở thành gì đi nữa, chúng vẫn cứ theo bản chất riêng của mình. Dù ta khóc hay cười vì chúng thì các pháp hữu vi này cũng chỉ như vậy. Những thứ vô thường thì vô thường. Những thứ không đẹp thì không đẹp. Chúng là như vậy. Dù ai biết hay không biết, chúng vẫn như vậy theo bản chất riêng của chúng. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng khi sắc, thanh, hương, vị, xúc hay pháp sinh khởi, ta chỉ nên buông chúng xuống. Khi mắt thấy sắc, hãy để nó trở về nhà của nó. Khi tai nghe âm thanh, hãy để nó đi. Khi mũi ngửi mùi, hãy để mùi bay đi. Chỉ để cái mũi ở lại. Khi vị sinh khởi nơi lưỡi, hãy để nó đi.
Khi một xúc chạm vào thân - dù là thứ bạn thích hay không thích - hãy để nó đi. Khi ta biết tất cả những thứ này theo cách này - dù chúng dễ chịu, khó chịu hay bất kỳ gì - khi ta thấy rằng tất cả đều theo cùng một khuôn mẫu, đó được gọi là thiền. Thiền nghĩa là làm cho tâm yên và, khi nó yên, làm cho nó biết. Để làm cho nó yên hay làm cho nó biết, ta phải thực hành với hai thứ: thân và tâm ngay tại đây, không gì khác.
Thật ra, tất cả những thứ mà sư nói ở đây đều là những thứ khác nhau: sắc là một loại, thanh là một loại, hương là một loại, vị là một loại, xúc là một loại, và pháp là một loại. Mỗi thứ đều riêng biệt, và Đức Phật dạy chúng ta biết chúng để phân tích chúng. Khi lạc sinh khởi, nó được gọi là cảm thọ lạc. Khi khổ sinh khởi, nó được gọi là cảm thọ khổ. Dù là lạc hay khổ, Ngài dạy chúng ta tách chúng ra khỏi tâm. Tâm là sự hay biết, là cái biết. Cảm thọ chỉ là một trạng thái lạc hay khổ mà ta thích hay không thích, đại loại như vậy. Khi tâm đi vào để nuôi dưỡng những trạng thái này, thì gọi là tâm bám víu vào chúng, gán nhãn cho chúng, hay tạo ra các giả định về lạc hay khổ.
Hành động dán nhãn hay giả định: đó là việc của tâm. Trạng thái lạc hay khổ: đó là trạng thái của cảm thọ. Sự hay biết là tâm. Những thứ được gọi là lạc hay khổ chính là các cảm thọ. Nếu dễ chịu thì gọi là cảm thọ lạc. Nếu khó chịu thì gọi là cảm thọ khổ. Đức Phật dạy chúng ta tách tâm ra khỏi cảm thọ. “Tách” ở đây không có nghĩa là xé chúng ra rồi ném vào hai chỗ khác nhau. Tâm phải biết lạc; tâm phải biết khổ - dù đôi khi ta tách chúng bằng cách làm tâm hoàn toàn yên tĩnh. Ví dụ, khi ta đưa tâm sâu vào định, thì khi tâm cảm nhận lạc, nó tách lạc ra. Vì sự tĩnh lặng quá dồi dào nên lạc không thể lọt vào. Bất kỳ đau đớn nào cũng không thể lọt vào. Đây là cách cảm thọ tách ra. Như khi ta ngồi thiền: nếu sự tĩnh lặng đến trước và cảm thọ sinh khởi sau, cảm thọ không thể đi vào. Tâm không hay biết nó. Điều đó nghĩa là tâm không biết cảm thọ. Cảm thọ tự tách ra. Nhưng dù sao đi nữa, cảm thọ chính là lạc. Lạc được gọi là cảm thọ lạc. Nếu khổ sinh khởi, nó được gọi là cảm thọ khổ. Đó là cảm thọ.
Khi tâm cảm nhận một cảm thọ lạc, ta có nhập vào nó và bám lấy nó không? Khi một cảm thọ khổ sinh khởi, ta có nhập vào nó và bám lấy nó không? Ta sẽ biết rằng tâm là như thế này, lạc là như thế kia, khổ là như thế nọ, cảm thọ là như thế kia. Chúng là những thứ khác nhau.
Bạn có thể so sánh chúng với nước và dầu trộn vào chai. Chúng ở trong cùng một chai, nhưng ở hai phần riêng biệt. Chúng có thể ở chung trong một chai nhưng không thấm vào nhau. Dù được lắc lên, dầu vẫn là dầu, nước vẫn là nước. Tại sao vậy? Vì mật độ của chúng khác nhau. Mật độ khác nhau nên chúng tách ra. Tâm cũng vậy. Nếu tâm ở trạng thái bình thường, nó không lạc cũng không khổ. Nhưng khi một cảm thọ đi vào, lạc và khổ đi vào. Nếu có chánh niệm, ta sẽ biết: “Cái này gọi là lạc”. Lạc thì dễ chịu, nhưng tâm biết rằng lạc là vô thường, nên không bám vào nó. Lạc có ở đó không? Nó ở ngay đó, nhưng tâm biết nó như một thứ bên ngoài tâm. Nó không bị chôn vào trong tâm. Dù rằng tâm vẫn biết nó rất rõ. Hoặc khi khổ sinh khởi, tâm có tách cảm thọ đó ra được không? Tâm có bị khổ không? Tâm có không nhận ra khổ không? Nó biết. Nó nhận ra khổ. Nhưng nó biết rằng tâm là tâm, cảm thọ là cảm thọ, nên nó không thể nắm lấy khổ và mang nó đi quanh như “khổ”…
Đức Phật phân tách mọi thứ bằng chánh niệm. Ngài có đau không? Ngài biết rõ trạng thái của đau, nhưng Ngài không tạo ra bất kỳ giả định nào về nó. Khi biết theo cách ấy, ta nói rằng Ngài đã tách cái đau, tách cảm thọ ra. Ngài có biết lạc thọ bình thường không? Lạc thọ vẫn có đó… nhưng Ngài biết rằng lạc thọ là chất độc nếu ta không thật sự hiểu nó. Vì vậy Ngài không cho rằng lạc thọ là của mình hay có thực thể gì cả. Lạc thọ có đó không? Nó có mặt trong sự nhận biết của Ngài, nhưng không có mặt trong tâm Ngài. Đó là cách ta biết rằng Ngài đã tách lạc và khổ ra khỏi tâm, tách cảm thọ ra khỏi tâm, dù những thứ ấy vẫn hiện diện ngay đó.
Cũng giống như khi ta nghe rằng Đức Phật hay các bậc Thánh đã “chặt đứt phiền não” hay “giết phiền não”: thật ra không phải họ tiêu diệt hết phiền não. Nếu họ đã giết sạch phiền não thì đâu còn phiền não nào cho chúng ta nữa, đúng không? - vì họ đã giết hết rồi. Nhưng thực ra họ không giết phiền não. Họ chỉ biết phiền não và buông chúng theo đúng bản chất của chúng. Vì vậy phiền não vẫn còn đó để bám lấy kẻ ngu. Không phải các bậc Thánh giết phiền não. Họ chỉ biết rõ trong chính tâm mình rằng những thứ ấy là chất độc, nên họ gạt chúng ra, gạt ra. Bất cứ thứ gì gây khổ trong tâm, họ gạt nó ra, chứ họ không giết phiền não.
Ai không biết rằng những thứ ấy đã bị các bậc Thánh gạt bỏ ra thì sẽ chấp vào chúng, đúng không? “À, cái này tốt đây”. Nhưng thật ra Đức Phật đã gạt bỏ chúng ra rồi. Như lạc thọ chẳng hạn: Ngài gạt nó ra, còn chúng ta khi thấy nó liền chụp lấy, bỏ vào túi, nghĩ rằng mình có được thứ tốt và nó là của mình.
Thật ra Đức Phật không giết những thứ ấy. Ngài chỉ thấy rõ chúng. Khi lạc thọ sinh khởi, Ngài biết đó là lạc thọ nhưng Ngài không lấy lạc thọ từ đó. Ngài biết đây là lạc thọ nhưng không cho rằng lạc thọ có thực thể, là của Ngài hay của ai cả. Đó là cách Ngài buông nó. Cũng vậy với khổ thọ: Khi có đau, Ngài gọi nó là “cảm thọ”, “cảm thọ đau”. Khi lạc thọ sinh khởi, Ngài biết: “Đây là cảm thọ lạc”. Nhưng chúng ta thì sao? Ngay cả trước khi cảm thọ xuất hiện, ta đã nhào vào để nếm nó. Tâm chạy vào để nắm lấy nó. Nói cách khác, ta chạy vào để vác cái đau, vác cái lạc theo mình. Sự thật là cảm thọ lạc và khổ là thứ khác với tâm. Giống như khi ta đang ngồi thoải mái ở đây. Nếu có một khúc gỗ mà ta thích, ta vác nó lên vai thì nó nặng. Khúc gỗ là cảm thọ. Người muốn khúc gỗ là tâm. Khi bạn nhấc khúc gỗ lên, nó nặng, đúng không? Tất nhiên là nặng. Nhưng nếu bạn có trí tuệ, thì dù khúc gỗ nặng bạn không cần phải khổ vì nó. Bạn biết đủ để đặt nó xuống. Khi nó quá nặng, bạn đặt nó xuống. Nếu khúc gỗ thật sự có ích cho việc gì đó, và bạn muốn mang nó theo để sử dụng thì nếu bạn biết theo cách này, sẽ không tệ lắm. Bạn sẽ không bị khúc gỗ đè bẹp.
Tâm cũng vậy. Các trạng thái tâm - cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, bất kỳ thứ gì trở thành mối bận tâm - đều thuộc thế gian. Nếu tâm biết điều này thì bạn có thể đối mặt với cái dễ chịu, bạn cũng có thể đối mặt với cái khó chịu. Vì sao? Vì bạn biết lạc và khổ đúng như bản chất thật của chúng. Nếu bạn không thật sự làm quen với lạc và khổ, bạn sẽ thấy rằng lạc và khổ nằm ở những “tầng” khác nhau, có “giá” khác nhau. Nhưng đối với người hiểu biết thì lạc và khổ như nhau. Chúng bằng giá nhau. Nếu bạn bám vào lạc, nó là nguồn của khổ. Khổ sẽ sinh khởi. Vì sao? Vì lạc là vô thường. Nó thay đổi qua lại. Khi lạc biến mất, khổ xuất hiện. Đại loại như vậy.
Đức Phật thấy rằng cả lạc và khổ đều có mặt trái, rằng chúng như nhau. Khi khổ sinh khởi, Ngài thấy giống như lạc sinh khởi. Khi lạc sinh khởi, Ngài thấy nó giống như khổ sinh khởi. Vì vậy Ngài buông cả lạc lẫn khổ, vì tất cả những thứ này đều giống nhau.
Đó là lý do tâm Ngài đi theo con đường chánh đạo. Ngài thấy rằng những thứ này đều khổ như nhau - giống nhau về mặt bất lợi, giống nhau về mặt lợi ích - vì cả hai đều không chắc chắn. Chúng nằm trong đặc tính mà giáo pháp gọi là vô thường, vì chúng gây căng thẳng. Chúng đều sinh rồi diệt theo cách này. Khi Đức Phật nhận ra điều này, chánh kiến sinh khởi như một phần của con đường chánh đạo. Dù Ngài đang ngồi, đứng, đi hay nằm, bất kỳ ý nghĩ hay cảm thọ nào sinh trong tâm, Ngài đều biết: “Đây là lạc. Đây là khổ”. Như nhau. Mọi lúc. Vì vậy Ngài không nắm giữ những thứ ấy. Ngay sau khi bậc Đạo sư của chúng ta giác ngộ, Ngài dạy về sự buông lung trong dục lạc (kāmasukhallikānuyoga) và sự hành hạ bản thân (attakilamathānuyoga). Ngài nói với các Tỳ-kheo rằng buông lung trong dục lạc là con đường chùng; hành hạ bản thân là con đường căng. Hai điều này đã quấy nhiễu Ngài suốt chặng đường cho đến ngày Ngài giác ngộ, vì Ngài chưa buông chúng. Nhưng ngay khi Ngài nhận ra điểm này, Ngài buông chúng. Đó là lý do Ngài thuyết bài pháp đầu tiên cho các đệ tử, nói rằng buông lung trong dục lạc, bám vào ái dục, không phải là con đường cho người xuất gia. Ai nghĩ về nó, ai nghiền ngẫm nó, ai tạo ra quan niệm về dục, đều rơi vào nhiều xáo trộn. Con đường ấy không có sự bình an. Trạng thái của một bậc chân tu không thể sinh khởi ở đó. Đừng đi con đường ấy.
Còn về việc hành xác, con đường tàn nhẫn và đau đớn: đừng đi con đường ấy. Không có bậc chân tu nào ở đó. Không có sự bình an ở đó. Không có bậc chân tu thật sự nào từng sinh khởi ở đó. Nói cách khác, Ngài dạy rằng người tu không nên đi theo con đường của lạc hay khổ. Khi lạc sinh khởi, đừng đắm mình. Khi khổ sinh khởi, đừng chạy theo nó. Hãy tỉnh giác. Khi khổ sinh khởi, biết rằng khổ đã sinh khởi.
Khi bạn biết phiền não, khổ đau, bạn sẽ biết nguyên nhân gây khổ, sự chấm dứt khổ và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt khổ. Con đường đó là thiền. Nói đơn giản là chúng ta phải có chánh niệm. Chánh niệm có nghĩa là luôn cảnh giác và quán tưởng: hiện đang ngồi đây, chúng ta đang nghĩ gì? Đang làm gì? Chúng ta đang có gì? Cảnh giác theo cách này giúp ta luôn ghi nhớ cách chúng ta là. Ta cảnh giác với những gì ta đang nghĩ về, với việc ta đang cảm thấy lạc hay khổ, việc ta đang làm là đúng hay sai. Khi chúng ta có thể giữ được hai phẩm chất chánh niệm và cảnh giác này cùng nhau mọi lúc, trí tuệ có thể phát sinh. Chúng ta có thể quán tưởng, có thể cảnh giác và những điều này đưa đến trí tuệ. Chúng ta đánh giá và suy ngẫm sự việc. Dù đang ngồi, đứng, đi hay nằm, chúng ta luôn cảnh giác như thế. Chúng ta sẽ nhận ra những gì đúng, những gì sai, những gì chỉ thực sự đúng, những gì không thực sự đúng.
Khi một quan điểm mà chúng ta thích phát sinh, ta sẽ nhận ra nó - và chúng ta sẽ không có những mặc định về nó. Nó chỉ là niềm vui, chỉ có thế. Khi khổ phát sinh và chúng ta đắm mình trong sự tự hành hạ, chúng ta có thể biết: “Đây không phải là con đường dành cho người hành thiền”. Vì vậy, nó chỉ là khổ, chỉ có vậy. Khổ và lạc chỉ là những điều “chỉ có vậy”. Đây được gọi là sự tách biệt - chúng ta có thể tách tâm và cảm xúc ra khỏi nhau.
Chính tâm làm điều này. Khi các trạng thái của lạc phát sinh và chúng ta chấp vào chúng, cảm thọ phát sinh. Bất kể đó là lạc hay khổ, nếu tâm có trí tuệ, chúng ta sẽ không chấp những điều này. Chúng ta sẽ chỉ đơn giản gạt chúng sang một bên. Chúng ta chỉ là người biết. Chúng ta biết những điều này như chúng là và ta để chúng qua đi đúng với tình trạng của chúng. Giống như dầu và nước khi được trộn chung: chúng không hòa lẫn vào nhau, dù chúng ở trong cùng một nơi. Giữa tâm và cảm xúc cũng thế. Ngay cả khi bệnh, chúng ta vẫn có thể cảm nhận rằng cảm giác là cảm giác và tâm là tâm. Chúng vẫn là những điều khác nhau. Chúng ta có biết khi một bộ phận nào đó đau không? Có. Chúng ta có biết khi mọi thứ thoải mái không? Có. Nhưng chúng ta không bám theo sự thoải mái hoặc khó chịu đó.
Chúng ta ở trong sự tĩnh lặng. Tĩnh lặng như thế nào? Sự tĩnh lặng không bị xáo trộn bởi sự thoải mái, sự tĩnh lặng không bị xáo trộn bởi nỗi đau. Đức Phật đã chỉ ra điều này cho ta thấy bởi vì những thứ này không có bản chất. Không có cách nào bạn có thể ở lại trong chúng. Tâm phải ở trong tình trạng này - nói cách khác, không có lạc, không có khổ. Ngài có biết rằng đã có lạc thọ không? Ngài biết, nhưng Ngài đã không cảm thấy hài lòng hoặc khó chịu vì nó. Ngài có biết rằng có khổ không? Ngài biết. Niềm vui? Ngài biết. Nhưng Ngài đã không chấp vào đó, vì vậy không có cảm giác nào phát sinh trong tâm Ngài. Chúng ta, những người bình thường, chưa giác ngộ có thể thấy điều này là lạ, nhưng đừng biến nó thành một vấn đề. Hãy nhắm thẳng vào điểm đó, vì đó là cách mọi thứ diễn ra. Tâm ở lại trong lãnh thổ riêng của nó. Cảm thọ lạc hay khổ ở trong lãnh thổ riêng của chúng. Chúng không hòa lẫn vào nhau.
Bản chất của chúng là như vậy. Chúng vốn đã tách biệt rồi. Không phải trường hợp chúng hòa lẫn vào nhau. Nếu chúng có vẻ hòa lẫn, đó là vì ta chưa hiểu rõ chúng. Thực ra, chúng đã tách biệt sẵn rồi. Thân và tâm cũng như vậy. Dù chúng ở chung một chỗ, nhưng giống như ngôi nhà và người sống trong nhà. Mối quan hệ của chúng cũng thế. Nếu ngôi nhà gặp nguy hiểm, tâm trí ta đau khổ vì ta phải chăm sóc nó. Nhưng nếu ngôi nhà bắt lửa, chúng ta có thể chạy ra ngoài, chạy khỏi ngôi nhà. Đối với cảm xúc cũng thế: khi một lạc thọ phát sinh, chúng ta có thể thoát ra khỏi nó. Khi một khổ thọ phát sinh, chúng ta có thể thoát ra khỏi nó. Chúng ta giống như chủ nhà. Khi mọi thứ trở nên thực sự nặng nề và chúng ta biết đúng theo sự thật, thì khi ngôi nhà bắt lửa, ta có thể chạy ra khỏi nhà - vì ta và nhà là hai phần riêng biệt. Một là chủ nhà; hai là ngôi nhà. Đó là chuyện bình thường đối với những điều này. Vì vậy, mặc dù chúng ta nói về việc tách tâm ra khỏi cảm giác, nhưng chúng thực sự đã riêng biệt rồi. Chỉ là khi chúng ta biết chúng đúng như chúng là, thì chúng đã biết cách tự tách ra. Đúng theo bản chất của chúng. Lý do chúng ta không thấy tách biệt là vì chúng ta bám vào chúng do tâm vô minh không biết sự thật của ta. Vì vậy, chúng được gắn chặt lại với nhau theo cách đó. Giống như muỗng múc cà-ri. Cà-ri là một thứ. Muỗng là một thứ khác. Nếu chúng ta biết đây là cà-ri, đây là muỗng, thì mọi thứ trở nên dễ dàng. Chúng ta sử dụng muỗng để ăn cà-ri, sau đó chúng ta đặt nó xuống. Nhưng nếu ta cố ăn cả cái muỗng, thì ta sẽ làm cho mọi thứ trở nên khó khăn. Nếu ta không thấy muỗng là muỗng, cà-ri là cà-ri, cảm giác là cảm giác và tâm là tâm, thì mọi thứ trở nên lẫn lộn. Khi chúng ta nhận ra điều này, thì chúng có thể tách ra cho dù ta đang ngồi, đứng, đi hay nằm.
Những niềm vui và nỗi đau luôn giao nhau ở nhiều cấp độ. Đây là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta thiền định. Việc thực hành thiền định thực sự quan trọng.
Chỉ đơn giản biết về những điều này là không đủ. Kiến thức đến từ việc thực hành với tâm tĩnh lặng và kiến thức đến từ việc học tập thực sự rất xa nhau. Khi chúng ta có được kiến thức từ việc học tập, không phải là tâm biết làm thế nào để buông. Nó biết nhưng sau đó lại bám giữ mọi thứ. Tại sao? Để chúng có thể hư hỏng. Để khi chúng hư hỏng, chúng ta khổ. Nếu tâm trí biết cả cách nắm giữ và cách đặt mọi thứ xuống, cách giữ chặt và cách buông bỏ, cả cách biết và cách buông, là ta biết rằng bản chất của mọi thứ chỉ đơn giản là như thế. Chúng ta cũng không quên bản thân. Khi nỗi đau hoặc bệnh tật phát sinh, chúng ta sẽ không quên. Có người nói: “Năm nay tôi bệnh cả năm nên tôi không thể hành thiền”. Đây là những lời của một người cực kỳ dại khờ. Trái lại, người bị bệnh, người đang chờ chết, cần đẩy nhanh việc hành thiền của họ hơn nữa. Tuy nhiên họ nói rằng họ không có thời gian để hành thiền. Phiền não đã phát sinh, nỗi đau đã phát sinh, một sự thiếu tin tưởng vào các hành này đã xảy ra, mà họ nghĩ rằng mình không thể hành thiền vì không có thời gian. Đức Phật đã không dạy như vậy.
Ngài dạy rằng đó chính là thời điểm thích hợp nhất. Bạn đã đến đúng chỗ để thực hành rồi. Khi đang bệnh, khi sắp chết, thì bạn càng phải tăng tốc nỗ lực, bạn càng biết và thấy. Chính lúc đó sự thật càng hiện rõ hơn. Nếu bạn không nghĩ theo cách này, mọi thứ sẽ trở nên khó khăn.
Người khác thì cho rằng họ không có cơ hội thực hành vì quá bận rộn. Nhiều thầy cô giáo đến đây, sư hỏi họ làm gì. Họ nói họ dạy trẻ con và có quá nhiều việc khiến họ quay cuồng. Họ không có thời gian để thiền. Sư hỏi họ: “Khi dạy học, các thầy cô có thời gian để thở không?”. “Thưa sư, có ạ”. “Các thầy cô có thời gian để thở thì tại sao nói rằng công việc khiến mình quay cuồng? Các thầy cô còn xa mới hiểu được điều gì”.
Thật ra, sự thực hành là chuyện của tâm, chuyện của sự tỉnh thức. Không phải chuyện phải làm cái này, cái kia, hay chạy đi, chạy lại lung tung. Chỉ là vấn đề nhận biết. Còn việc thở, bạn vẫn có thể thở khi đang làm việc. Bản chất của thân còn biết cách làm điều đó hơn cả bạn. Nó biết tự lo cho nó. Bạn chỉ cần tăng cường chánh niệm để tỉnh giác, thế thôi. Thực hành như vậy để thấy mọi thứ ngày càng rõ ràng hơn. Thiền là như vậy.
Nếu bạn tỉnh thức theo cách này, thì bất cứ công việc gì bạn làm cũng thành công. Thật ra, bạn còn làm việc với sự nhạy bén hơn về đúng và sai. Vậy nên hãy thay đổi cách hiểu của mình. Bạn có rất nhiều thời gian để thiền. Chỉ là bạn không biết, thế thôi. Khi nằm, bạn thở được, đúng không? Khi ăn, bạn thở được, đúng không? Bạn có thể thở dù ở đâu. Tại sao bạn có thời gian để làm điều đó? Nếu nghĩ theo cách này, thì đời sống của bạn có giá trị ngang với hơi thở của bạn. Và ở bất cứ đâu, bạn cũng có thời gian. Sự tỉnh thức và tư duy của ta là chuyện của tâm, không phải chuyện của thân. Vậy nên hãy quán chiếu theo cách mới, nghĩ theo cách mới, khám phá theo cách mới. Bạn chỉ cần có chánh niệm, và bạn sẽ luôn biết cách chịu trách nhiệm trong việc nằm, ngồi, đi, đứng của mình. Bạn sẽ biết tận dụng thời gian của mình. Bạn có nhiều thời gian hơn mức bạn nghĩ. Chỉ là bạn không biết sử dụng thời gian của mình một cách thông minh, nên mới không có thời gian. Thực ra, lúc nào bạn có thời gian, hãy đem điều này ra mà quán chiếu.
Còn về vấn đề cảm thọ: Ta có thể chạy trốn chúng ở đâu không? Hẳn là không, vì vậy ta phải biết chúng. Ta phải biết chúng một cách rõ ràng. Cảm thọ chỉ là cảm thọ, thế thôi. Lạc chỉ là lạc, thế thôi. Khổ chỉ là khổ, thế thôi. Tất cả đều chỉ “thế thôi”, vậy tại sao lại bám vào chúng? Nếu tâm có trí tuệ, chỉ cần nghĩ như vậy là nó có thể tách cảm thọ ra khỏi tâm. Cảm thọ chỉ là cảm thọ, thế thôi. Tâm thấy rằng nó chỉ là “thế thôi”. Khổ chỉ là khổ, thế thôi. Lạc chỉ là lạc, thế thôi. Hãy để chúng tách biệt. Chúng có đó không? Vâng, chúng ở đó, nhưng bên ngoài tâm.
Chúng ở đó mà không bám víu. Tâm không tạo ra bất kỳ giả định nào về chúng. Chúng ở đó mà như không ở đó, chỉ vậy. Hãy nghĩ và quán chiếu theo cách này, đừng lo lắng nó sẽ đưa bạn về đâu. Điều này được gọi là tách cảm thọ ra khỏi tâm. Biết tâm trí như thế nào; biết cảm giác như thế nào. Tâm trí là những gì đi vào cảm giác của niềm vui, để xem những gì chúng ta nói là niềm vui có thực sự đúng, để xem liệu nỗi đau có chắc chắn hay không. Khi ta theo dõi mọi thứ theo cách đó, trí tuệ sinh khởi trong tâm và tách lạc và khổ ra, thấy rằng lạc chỉ là lạc, thế thôi. Khổ chỉ là khổ, thế thôi. Ta không thấy có gì ở đó cả.
Bất cứ thứ gì có mặt cũng là “chỉ thế thôi”. Khi ta có sự biết này từ đầu đến cuối, tâm sẽ buông - nhưng không phải buông vì vô minh. Nó buông và nó biết cùng lúc. Nó không buông vì ngu si hay vì không muốn mọi thứ như vậy. Nó buông vì nó thấy rằng mọi thứ vốn dĩ là như vậy. Đây được gọi là cái thấy tự nhiên, hay thấy cái bình thường. Khi ta biết theo cách này, ta sẽ thuần thục đối với tâm. Ta biết cách chăm sóc tâm. Ta trở nên khéo léo trong chính tâm mình. Ta cũng sẽ khéo léo đối với các đối tượng của tâm.
Đây được gọi là Lokavidū (Thế gian giải): Bậc thấu suốt các vấn đề của thế gian. Đức Phật là bậc thấu suốt các vấn đề của thế gian. Ngay giữa những điều phức tạp và rối rắm, Ngài biết những điều phức tạp và rối rắm đó. Và sự hiểu biết của Ngài về những điều ngược lại cũng ở cùng một nơi. Thế gian là hỗn loạn, vậy làm sao Ngài có thể biết nó một cách tinh thông? Ta phải hiểu rằng Pháp mà Đức Phật tuyên thuyết không có gì vượt ngoài khả năng của chúng ta. Vì vậy, khi ta biết ngay tại tâm mình rằng tâm là tâm, cảm thọ là cảm thọ, và chúng tách biệt nhau - ở những phần riêng, giai đoạn riêng - tâm có thể thấy rằng trạng thái của các đối tượng chỉ là như vậy, theo bản chất của chúng. Chúng chỉ sinh rồi diệt, diệt rồi sinh. Chỉ có vậy thôi. Ta buông chúng theo đúng bản chất của chúng, vì chúng ở những chỗ riêng biệt. Đây là ý nghĩa của việc biết và thấy theo đúng như thật. Ngay tại đây là nơi vấn đề chấm dứt. Vì vậy tất cả chúng ta hãy nhớ: Đây là cách mọi thứ vốn là. Dù bạn ngồi, đứng, đi hay nằm, đây là cách chúng luôn như vậy trong từng khoảnh khắc, bởi vì bạn hướng tâm vào sự thực hành. Bạn chánh niệm và tỉnh giác mọi lúc. Chỉ vậy thôi. Đến lúc ngồi thiền, cứ ngồi. Hiểu rằng định là để làm sinh khởi sự tĩnh lặng, và sự tĩnh lặng chỉ để tăng cường năng lượng của bạn, thế thôi.
Không phải để thấy cho thật nhiều thứ khác. Vì vậy chúng ta phải tiếp tục rèn luyện định một cách đều đặn. Còn về việc thực hành Vipassanā, thì cũng giống như thực hành định mà thôi. Ở vài nơi người ta nói: “Bây giờ chúng ta đang tu định, đang tu thiền Chỉ, còn Vipassanā thì để sau. Đại loại như vậy. Đừng tách chúng ra xa nhau như thế”.
Chỉ là gốc của tuệ; tuệ là quả của Chỉ. Không phải là bây giờ tu Chỉ, rồi sau này mới tu Vipassanā. Không thể tách rời chúng theo cách đó được. Chúng chỉ khác nhau ở tên gọi. Chúng giống như một con dao: lưỡi bén ở bên này, sóng dao ở bên kia. Không thể tách chúng ra. Nếu bạn cầm cái cán, thì cả lưỡi và sóng dao đều đi theo. Chúng không nằm ở đâu khác.
Khi có sự yên tĩnh, tuệ sinh ngay trong sự yên tĩnh ấy. Hãy thấy chúng như một khúc gỗ duy nhất. Những thứ này từ đâu mà ra? Chúng có “cha mẹ” sinh ra, giống như tất cả chúng ta phải có cha mẹ mới ngồi đây được. Vậy Pháp từ đâu mà đến? Giới là cha mẹ của Pháp.
Ban đầu phải có giới. Và giới chính là sự yên tĩnh - nghĩa là không làm điều sai trái qua thân hay tâm. Khi không làm điều sai, thì không có rắc rối, vì không có cái sai. Khi không có rắc rối, sự yên tĩnh có thể sinh. Tâm sinh ra định ngay lúc đó.
Vì vậy chúng ta được dạy rằng Giới, Định, Tuệ - con đường mà bậc Thánh đi đến Niết-bàn - thực ra là một. Nói ngắn gọn hơn: Giới, Định, Tuệ là một - một mảnh Pháp duy nhất. Giới là Định; Định là Giới. Định là Tuệ; Tuệ là Định.
Nó giống như trái xoài. Khi còn là hoa, ta gọi là hoa xoài. Khi thành trái nhỏ, ta gọi là xoài non. Khi lớn hơn, ta gọi là xoài lớn. Khi lớn và gần chín, ta gọi là xoài ươm. Khi chín hẳn, ta gọi là xoài chín. Tất cả đều là một trái xoài, chỉ là nó thay đổi, thay đổi và thay đổi.
Khi nó lớn, là lớn lên từ nhỏ. Khi nó nhỏ, là nhỏ hướng đến lớn. Bạn có thể gọi đó là những trái xoài khác nhau, hoặc gọi tất cả là một trái xoài. Giới, Định, Tuệ liên hệ với nhau cũng như vậy. Cuối cùng chúng trở thành con đường tiến đến dòng Thánh, đến Niết-bàn.
Trái xoài, từ lúc còn là hoa, tiến dần đến lúc chín - vậy là đủ. Hãy thấy theo cách đó. Khi thấy như vậy, ta không còn chê trách gì.
Cũng giống như thân giả hợp này. Nó làm gì thì đừng bận tâm quá. Sau khi sinh ra, nó phải già. Sau khi sinh ra, nó làm gì thì hãy quán chiếu. Có người không muốn già. Khi già thì buồn bã. Nếu vậy thì đừng ăn xoài chín nữa! Tại sao lại muốn xoài chín?
Khi xoài chậm chín, chúng ta ép cho nó nhanh chín, đúng không? Thế mà khi chúng ta già đi và “chín”, thì lại sợ hãi và buồn bã. Có người bắt đầu khóc, sợ rằng mình sẽ già và chết. Nếu vậy thì đừng ăn xoài chín nữa! Tốt hơn là chỉ ăn hoa xoài thôi.
Khi chúng ta có thể suy nghĩ theo cách này, Pháp trở nên rõ ràng hơn. Ta có thể an nhiên - và rồi ta sẽ làm gì? Ta chỉ đặt tâm chuyên chú vào sự hành thiền.
Đó là bài Pháp sư dành cho ngài Chủ tịch Hội đồng Cơ mật và con cháu của ngài đã tụ họp về đây hôm nay. Sư đã giảng Pháp cho quý vị nghe, và như vậy là đủ cho dịp này. Những gì sư đã nói ở đây, sư muốn quý vị phân tích ra mà quán chiếu. Nó chưa hẳn đúng, cũng chưa hẳn sai. Để nó thành đúng hay sai thì quý vị phải tự mình quán chiếu. Đó là bổn phận riêng của mỗi người. Và đối với những gì sai hay chưa chính xác, xin hãy tha thứ cho sư ngay lúc đó. Thật ra, dù đúng hay sai, tất cả đều là những điều để quý vị cần thực hành: cái gì sai thì bỏ; cái gì đúng thì theo. Hãy thực hành, được không? Thực hành buông bỏ cả đúng lẫn sai. Nếu cái gì đúng mà quý vị chấp giữ là đúng, rồi người khác nói nó sai, thì quý vị sẽ tiếp tục tranh cãi mãi. Nhưng Pháp là chỗ không có gì cả. Không có gì hết.
Sư từng đọc một câu chuyện do một thiền sinh mang đến đây: Một số thiền sinh đang ngồi với sư phụ của họ gần một cột cờ. Gió thổi qua lại, và lá cờ phấp phới. Một thiền sinh nói: “Tại sao lá cờ phấp phới? Chắc là vì gió”. Kẻ khác nói: “Không. Là vì có lá cờ”. Thế là họ cứ tranh luận như vậy. Sư phụ họ ngồi đó mà không nói gì.
Họ cứ cãi nhau cho đến khi sư phụ nói: “Không. Cả hai đều sai, nên lá cờ mới còn phấp phới. Không có lá cờ và cũng không có gió”…
_________
Nguồn: In Body & Mind, một trong tám bài pháp thoại từ sách Still, Flowing Water của Đại Trưởng lão Thiền sư Ajahn Chah, Tỳ-kheo Thanissaro dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh.
(NSGN 363 - 634)
