Tăng trưởng 2 con số: Từ sức bật trước mắt đến nội lực dài hạn
Theo chuyên gia, một nền kinh tế mạnh phải được xây dựng trên năng suất cao, doanh nghiệp mạnh, công nghệ mạnh, hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài.
Không thể đi theo lối mòn cũ, tư duy cũ, cách làm cũ
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số đang đặt ra yêu cầu cao đối với tất cả các ngành, lĩnh vực và địa phương. Trong đó, sản xuất điện được kỳ vọng tăng 16,9%, xây dựng tăng 17,6%, dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 17,3%.
Tại các địa phương, mục tiêu cũng được đặt ở mức cao. Thành phố Hồ Chí Minh được giao tăng trưởng GRDP 10,2%, Hà Nội 11%, Hải Phòng và Quảng Ninh cùng 13%, Bắc Ninh 12,5%, Hưng Yên 11,5%, Đà Nẵng 11,22%...
Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới để đạt được mục tiêu này, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định: "Để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chúng ta không thể đi theo lối mòn cũ, tư duy cũ, cách làm cũ".

Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Đình Cung (Ảnh: Gia Hân).
Theo chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Đình Cung, thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là làm sao để năng lực nội sinh mạnh hơn trước các biến động thời cuộc. Và đặc biệt không được nhầm lẫn giữa một nền kinh tế "lớn hơn" với một nền kinh tế "mạnh hơn".
Suốt gần 4 thập kỷ đổi mới và phát triển, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, theo ông Cung, tăng trưởng về quy mô chưa đồng nghĩa với việc các nền tảng nội tại đã đủ mạnh.
Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc khá lớn vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn, bao gồm chứng khoán và trái phiếu, còn gặp nhiều khó khăn. Năng suất lao động và năng lực xuất khẩu của nền kinh tế vẫn có sự đóng góp lớn từ khu vực FDI và các doanh nghiệp liên doanh. Đầu tư cho hạ tầng giao thông vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn đầu tư công, trong khi tỷ trọng vốn tư nhân và xã hội hóa cho lĩnh vực này còn hạn chế.
Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, xuất khẩu, quy hoạch đô thị, quy hoạch phát triển quốc gia, vùng và ngành vẫn đứng trước không ít thách thức.
"Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một nền kinh tế lớn hơn vào năm 2030. Nhưng quy mô GDP lớn hơn chưa đồng nghĩa với một nền kinh tế mạnh hơn", TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.
Theo ông, một nền kinh tế mạnh phải được xây dựng trên năng suất cao, doanh nghiệp mạnh, công nghệ mạnh, hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài. Đây chính là khoảng cách giữa tăng trưởng về lượng và phát triển về chất.
Nhìn từ nay đến năm 2030, Việt Nam không chỉ đối mặt với bài toán làm thế nào để GDP tăng 10% hay cao hơn trong một vài năm, mà quan trọng hơn là xây dựng được những nền tảng cần thiết cho một nước công nghiệp hiện đại. Xa hơn, từ năm 2030 đến năm 2045, thách thức là phải chuyển những nền tảng đó thành năng lực nội sinh của một quốc gia phát triển.
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng 2 con số không đơn thuần là cuộc chạy đua về một con số GDP, mà đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách thức tổ chức nền kinh tế và khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực đang có.
Khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho tăng trưởng thực chất
Để đạt tốc độ tăng trưởng cao, ĐBQH Trần Hoàng Ngân (đoàn Tp.HCM) cho rằng, điều đầu tiên là phải khai thác tối đa toàn bộ tiềm năng, tiềm lực hiện có của nền kinh tế. Theo ông, không thể chỉ trông chờ vào một vài ngành hay một vài địa phương. Tất cả lĩnh vực, các vùng kinh tế đều cần có chương trình hành động cụ thể để cùng đóng góp vào mục tiêu chung.
Bên cạnh việc khai thác các động lực hiện hữu, Việt Nam cần tập trung vào 4 trụ cột mang tính đột phá. Trước hết là 3 đột phá chiến lược đã được xác định từ nhiều năm nay, gồm hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng đồng bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây vẫn là những nền tảng cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân (Ảnh: Hoàng Bích).
Bên cạnh 3 trụ cột trên, ĐBQH Trần Hoàng Ngân cho rằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành một đột phá mũi nhọn, có tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế.
Từ nền tảng của gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều tiềm năng và lợi thế. Vấn đề đặt ra là phải khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có.
Một trong những lợi thế lớn là kinh tế biển. Với đường bờ biển dài, Việt Nam có điều kiện để phát triển đồng thời du lịch biển, logistics cảng biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, thủy sản và dầu khí. Nếu có chiến lược phù hợp, đây có thể trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng trong nhiều thập niên tới.
Nông nghiệp cũng là một trụ cột cần được đổi mới phương thức phát triển, chuyển mạnh sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.
Bên cạnh đó, lợi thế về văn hóa, nếu được khai thác hiệu quả thông qua phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch, cũng có thể tạo ra những giá trị kinh tế mới. Và theo ông Ngân, một trong những lợi thế quan trọng nhất vẫn là con người Việt Nam với trí tuệ và khả năng thích ứng nhanh, đặc biệt trong quá trình phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao.
Song song với việc khai thác các động lực phát triển, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế được xem là một trong những điều kiện quan trọng để tạo dư địa cho tăng trưởng.
Tại kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua 15 luật, 6 nghị quyết quy phạm pháp luật và cho ý kiến lần đầu đối với 7 dự án luật khác, nhằm kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tế, tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính và khơi thông nguồn lực.
Theo đánh giá của các đại biểu Quốc hội, tác động của các quyết sách này cần được nhìn trong tổng thể các luật, nghị quyết cùng hướng đến mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí và tạo môi trường thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Bà Phạm Thị Hồng Yến - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội (Ảnh: Hữu Thắng).
Bà Phạm Thị Hồng Yến - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho biết, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp trong năm 2026-2027, áp dụng với cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm, thể hiện khả năng phản ứng chính sách nhanh và kịp thời trước những khó khăn của sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Việc giảm trực tiếp nghĩa vụ thuế được kỳ vọng giúp các chủ thể kinh tế có thêm nguồn lực tài chính, gia tăng lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nuôi dưỡng quy mô phát triển.
Nhìn tổng thể, các quyết sách được thông qua không chỉ nhằm giải quyết từng điểm nghẽn riêng lẻ mà còn hướng tới tạo lập một khung khổ pháp lý có khả năng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương. Từ giảm nghĩa vụ thuế, cắt giảm điều kiện kinh doanh, cải cách phương thức quản lý đến hoàn thiện thể chế tài chính, tiền tệ, điểm chung là yêu cầu chuyển nhanh từ chủ trương sang hành động và tạo thêm động lực từ thể chế cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, chính sách chỉ có thể tạo ra "đường băng", còn việc biến cơ hội thành tăng trưởng thực chất phụ thuộc rất lớn vào năng lực của doanh nghiệp.
Theo ông Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Nhà nước có thể tạo "đường băng" chính sách, nhưng doanh nghiệp phải sẵn sàng biến cơ hội thành thực tế phát triển. Doanh nghiệp cần chuẩn hóa quản trị, mở rộng thị trường và từng bước hướng tới thị trường toàn cầu.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số vì vậy không thể chỉ dựa vào nỗ lực của riêng Nhà nước hay cộng đồng doanh nghiệp. Một phía cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, phía còn lại phải nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và tận dụng cơ hội thị trường.
