Phần lớn người Việt nhận thức béo phì là bệnh lý mạn tính
Theo tạp chí Communications Medicine, béo phì không chỉ ảnh hưởng xấu đến ngoại hình mà còn là tác nhân chính gây ra 61 loại bệnh mạn tính. Chuyên gia khuyến cáo, thay đổi lối sống là giải pháp bền vững để phòng ngừa và kiểm soát cân nặng...

Tỷ lệ béo phì ở thanh thiếu niên tại TP.HCM đã vượt mốc 50%, ở Hà Nội là trên 41%.
Một nghiên cứu mới do Novo Nordisk phối hợp cùng Decision Lab thực hiện với 1.004 người trưởng thành tại 5 thành phố lớn (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ), cho thấy 83% người Việt tham gia khảo sát nhận thức béo phì là một bệnh lý có thể kéo theo nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm.
Cụ thể, béo phì được cho là liên quan đến rối loạn mỡ máu, tim mạch, tiểu đường; 72% còn nhận thấy nguy cơ ung thư và vô sinh. Không chỉ ảnh hưởng thể chất, người được hỏi cũng ý thức rõ những hệ lụy trong đời sống hằng ngày: 82% cho biết người béo phì thường mặc cảm, tự ti; khoảng 80% nhận thấy sức khỏe tinh thần và hiệu suất công việc bị suy giảm; 60% cho rằng tình trạng này còn ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân.
Tuy vậy, nhận thức khoa học này vẫn song hành với định kiến xã hội. Hơn một nửa số người tham gia khảo sát cho rằng béo phì bắt nguồn từ sự lười biếng hoặc thiếu ý chí. Gần 8/10 người nhận định người béo phì gặp bất lợi trong các công việc coi trọng ngoại hình. Những quan niệm này khiến không ít người mắc béo phì e ngại, chần chừ trong việc tìm kiếm hỗ trợ y tế.

Theo các chuyên gia, thực tế này cho thấy nhu cầu cấp bách trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi góc nhìn, coi béo phì là một bệnh mạn tính cần được can thiệp sớm, có sự phối hợp đồng bộ từ y tế, chính sách và cộng đồng.
Thực tế, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo béo phì là một bệnh mạn tính phức tạp, diễn tiến âm thầm nhưng để lại hệ lụy sâu rộng, từ sức khỏe cá nhân đến áp lực lên nền kinh tế quốc gia. Theo World Obesity Atlas 2025 (bản đồ béo phì thế giới), Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ béo phì thấp nhất Đông Nam Á, song lại có tốc độ gia tăng nhanh nhất khu vực.
Dự báo cho thấy tổng chi phí kinh tế do béo phì tại Việt Nam có thể tăng từ khoảng 4 tỉ USD năm 2020 lên hơn 16 tỉ USD vào năm 2035. Riêng chi phí y tế được ước tính tăng gấp ba lần, từ 372 triệu USD lên khoảng 1,27 tỉ USD. Đáng nói, Việt Nam hiện chỉ xếp hạng 108/183 quốc gia về mức độ sẵn sàng trong điều trị béo phì, phản ánh những khoảng trống lớn trong hệ thống y tế và sự thiếu hụt của các giải pháp phối hợp toàn diện.
Báo cáo chỉ ra ba nguyên nhân chính khiến khoảng cách giữa nhận thức và hành động vẫn còn lớn. Thứ nhất, lối sống hiện đại với ít vận động và chế độ ăn thiếu lành mạnh đã trở thành thói quen phổ biến. Gần 2/3 số người được khảo sát cho biết họ dành hơn 6 giờ mỗi ngày để ngồi, trong khi hơn 1/3 thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn.

Thứ hai, các hệ quả sức khỏe của béo phì thường xuất hiện muộn và diễn ra âm thầm, khiến nhiều người chủ quan. Nghiên cứu Action-Vietnam cho thấy 30% người béo phì vẫn hài lòng với cân nặng hiện tại, và 36% cho rằng béo phì ít đáng lo ngại hơn các bệnh khác.
Thứ ba là những quan niệm sai lệch về dinh dưỡng, đặc biệt trong cách nuôi dạy trẻ. Khảo sát ghi nhận 55% phụ huynh lo con biếng ăn hơn là ăn quá nhiều; 42% cho rằng trẻ "mũm mĩm" đồng nghĩa với khỏe mạnh; và 37% tin rằng ăn nhiều sẽ giúp trẻ phát triển nhanh hơn.
Trước đó, vào tháng 6/2025, Novo Nordisk Việt Nam cũng đã công bố những phát hiện mới, nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện trong chăm sóc và quản lý bệnh béo phì hiệu quả hơn. Theo đó, Việt Nam đang chứng kiến tỷ lệ thừa cân và béo phì tăng 38%. Tỷ lệ béo phì ở thanh thiếu niên tại TP.HCM đã vượt mốc 50%, ở Hà Nội là trên 41%.
Trong chương trình tư vấn trực tuyến về chủ đề "Béo phì và một số bệnh lý liên quan" do Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế tổ chức mới đây, GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Tim mạch Đông Nam Á, Trưởng Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội, cho biết theo thống kê của WHO, trong 2 thập kỷ vừa qua, tỷ lệ tử vong liên quan đến béo phì ở nước ta tăng gấp 5 lần, nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á cũng tăng hơn 4 lần. Đây là những con số rất đáng báo động.

Hơn một nửa số người tham gia khảo sát cho rằng béo phì bắt nguồn từ sự lười biếng hoặc thiếu ý chí.
Đặc biệt, béo phì là một trong những nguyên nhân dẫn tới những bệnh lý liên quan đến tim mạch rất nguy hiểm. Trong đó có đột quỵ, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu... Bên cạnh đó, béo phì còn ảnh hưởng tới những bệnh lý khác như hội chứng ngưng thở khi ngủ, hội chứng buồng trứng đa nang, viêm khớp, thoái hóa khớp, gan nhiễm mỡ, túi mật.
GS Hùng lấy dẫn chứng, một bệnh nhân mắc đái tháo đường sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhưng người bệnh đái tháo đường mắc kèm béo phì thì nguy cơ tử vong tăng lên gấp khoảng 7 lần. Ở góc độ lâm sàng tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai hiện nay, TS.BS Phan Thanh Thủy cho biết, béo phì là yếu tố nguy cơ rất quan trọng gây hội chứng ngưng giảm thở khi ngủ.
Tỷ lệ mắc rối loạn này ở người béo phì là trên 30% và ở người có BMI trên 40 có thể lên 50 - 98%. "Khi tổng hợp tất cả bệnh nhân có hội chứng ngưng - giảm thở khi ngủ, chúng tôi thấy có đến 60 - 90% bệnh nhân này bị thừa cân hoặc béo phì", TS. Thủy chia sẻ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới bệnh béo phì, như ăn uống không hợp lý, lối sống tĩnh tại, căng thẳng kéo dài, mất ngủ, yếu tố di truyền, nội tiết và cả môi trường sống. Giảm cân bền vững cũng không dễ dàng. Người bệnh dễ tăng cân trở lại nếu không được hỗ trợ toàn diện. Các chuyên gia khuyến cáo điều trị cần sự phối hợp đa ngành: bác sĩ chuyên khoa, chuyên gia dinh dưỡng, huấn luyện thể lực, hỗ trợ tâm lý, điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa khi cần.

Người bệnh đái tháo đường mắc kèm béo phì thì nguy cơ tử vong tăng lên gấp khoảng 7 lần.
TS.BS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã phối hợp với Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam xây dựng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì từ năm 2022.
Hiện tại, Bộ Y tế cũng đang xây dựng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì ở người trẻ tuổi. Dự kiến, hướng dẫn này sẽ được ban hành trong thời gian sớm tới, nhằm đáp ứng nhu cầu phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì đang gia tăng nhanh trong nhóm tuổi này.






























