'Người rồi cũng chết, sách vở để làm gì?'

Thầy Nguyễn Xớn là một trong những giảng viên đại học ít đọc và viết sách. “Người rồi cũng chết, sách vở để làm gì?”-là câu nói cửa miệng của thầy. Với một người vốn coi thường sách vở, ghét việc tầm chương trích cú như thầy Xớn, nhưng lại là tác giả của một công trình cho đến nay, đọc lại vẫn còn mới mẻ, đầy ắp giá trị học thuật và hiện đại.

Đó là cuốn "Tác phẩm và phê bình văn học". Thực chất, đây là một phần trong chương trình lý luận văn học giảng dạy ở bậc đại học (Tiến trình văn học, Tác phẩm văn học, Thể loại văn học, Phương pháp sáng tác). Thầy Xớn đảm nhiệm giảng dạy giáo trình "Tác phẩm văn học", nhưng khi in thành sách, thầy đã phát triển theo một hướng mới, rất “phăng”, rất tài tử, rất thông minh, theo kiểu riêng rất Nguyễn Xớn, nhằm lấp chỗ trống trong chương trình đào tạo.

Thầy Nguyễn Xớn cùng vợ, cô Lê Thị Yến (quê Vĩnh Linh) - Ảnh: P.P.P

Thầy Nguyễn Xớn cùng vợ, cô Lê Thị Yến (quê Vĩnh Linh) - Ảnh: P.P.P

Khoa Văn học có mấy bộ môn chủ yếu: Lịch sử văn học, Lý luận văn học và Phê bình văn học. Từ trước đến nay, Khoa Ngữ văn các trường đại học, chủ yếu là dạy Lịch sử văn học (văn học các nước Anh, Pháp, Việt Nam, Trung Quốc..., các vùng Mỹ Latinh, Đông Nam Á, Bắc Âu...) và Lý luận văn học (tiến trình, tác phẩm, thể loại, phương pháp, mỹ học, thi pháp học...), chứ không dạy Phê bình văn học.

Ngay cả đối với tạp chí "Nghiên cứu văn học", phần dành cho phê bình cũng hết sức khiêm tốn. Trong khi đó, thực tế hoạt động của đời sống văn học lại đòi hỏi cần thiết phải biết những kiến thức và thao tác cơ bản của phê bình văn học. Giáo trình của thầy Xớn đã lấp vào khoảng trống mênh mông kéo dài rất lâu trong chương trình đào tạo.

Thầy Xớn có tên khai sinh là Nguyễn Văn Xớn, tuổi Kỷ Sửu 1949 (trong giấy tờ 1950), quê ở Thạch Hà, Hà Tĩnh. Năm 1970, thầy thi đỗ đại học nhưng tình nguyện tham gia quân đội, đến năm 1974, về học khóa 19 Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp năm 1978, thầy về giảng dạy tại Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học) cho đến lúc nghỉ hưu (năm 2010).

Thời còn ở bộ đội, thầy chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, bị một trận ốm thập tử nhất sinh, phải đưa về tuyến sau để chữa bệnh. Khỏi bệnh, đơn vị phân công thầy dạy bổ túc văn hóa cho thanh niên xung phong. Sau này nhớ lại, thầy từng tâm sự: “Cả một trời lửa đạn, nhưng không chạm được đến mình. Có lẽ do mình nhỏ con, thấp bé quá, đạn bắn không trúng. Nhưng đó chính là quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp nhất của mình. Chính đất trời Quảng Trị đã nuôi mình trưởng thành. Còn Quảng Bình, nơi có những lán trại mỗi đêm mình làm nghề dạy học đầu tiên, đã cho mình niềm tin và tình yêu cái đẹp, vẻ đẹp dung dị, đơn sơ của những cô gái mười tám, đôi mươi có tấm lòng yêu nước trắng trong như ngọc...”.

Trong cuộc đời dạy học của tôi, thầy Xớn là người đồng nghiệp thân thiết nhất. Nhiều năm dài, dù bận bịu công việc gì, chúng tôi cũng tranh thủ thời gian ghé thăm nhau, tếu táo với nhau một vài câu, uống với nhau một cốc trà, cốc rượu hoặc một chai bia. Tôi nhớ, hình như từ lúc chơi với nhau cho đến lúc anh đi, chúng tôi có gì phật lòng đều nói thẳng với nhau, không hề để bụng.

Vợ chồng thầy Nguyễn Xớn cùng con gái, con rể và cháu ngoại - Ảnh: P.P.P

Vợ chồng thầy Nguyễn Xớn cùng con gái, con rể và cháu ngoại - Ảnh: P.P.P

Trước đó, khi tôi được Trường đại học Tổng hợp Huế gửi ra học khóa 22, Đại học Tổng hợp Hà Nội, thì Nguyễn Xớn đã tốt nghiệp. Anh về trường Huế và nghe đâu có dạy lớp Văn khóa 1 mà tôi đã từng học. Năm 1981, tôi tốt nghiệp về trường, dạy cùng bộ môn Lý luận văn học với anh và trở nên thân thiết, càng ngày càng như một cặp bài trùng.

Anh hơn tôi 6 tuổi, ban đầu tôi gọi bằng thầy, về sau thân thiết, tôi gọi bằng anh, thường xuyên “ông ông, tôi tôi” trong quan hệ thường nhật, thậm chí về sau, có lúc tôi còn “bố láo” gọi Xớn là chú em và xưng anh một cách ngang nhiên, mặc dù vẫn gọi chị Yến, vợ anh, là đại tẩu. Tính anh thân thiện, xề xòa và cũng hay tếu táo, nên khi nghe tôi gọi thế, anh cũng đáp lại “dạ, anh ạ!” một cách vui vẻ.

Chuyện là, khi tôi làm Trưởng bộ môn Lý luận văn học và Báo chí, thì có một hôm, anh Thước từ quê vào thăm, 3 anh em quây quần bên chiếc chiếu trải dưới nền nhà, lai rai. Anh Xớn lịch sự giới thiệu: “Đây là bác Thước, anh kế tôi ở quê vào"-quay về phía anh Thước-"còn đây là anh Phong, trưởng bộ môn của em, sếp của em đấy...!”. Ối, giời ôi, thế là bác Thước tuôn ra bao nhiêu là lời gửi gắm, nào là thằng em tôi nó dại lắm, nó phổi bò, hay nói năng lung tung, nhưng tâm tính nó tốt lắm, mong anh thay tôi, có gì chỉ bảo nó giúp cho tôi với... anh nói dài lắm.

Để cắt lời anh, tôi cười đùa lại: “Ông Xớn có nghe lời giáo huấn của bác Thước chưa? Nhớ nhé, từ nay, phải gọi tôi bằng anh nhé! Để tôi còn thay mặt bác dạy dỗ nữa nhé”. "Dạ, anh ạ!", Xớn đáp một cách hiền lành, trơn tru như điều đó là lẽ đương nhiên, không có gì phải bàn cãi nữa!

Thực ra, chức trưởng bộ môn là của anh Xớn. Thời đó, ở Hà Nội cũng như ở Huế, sinh viên Ngữ văn tốt nghiệp ra đi làm báo khá nhiều. Trong chương trình đào tạo, luôn có phần ngoại khóa là mời một nhà báo danh tiếng đến nói chuyện một vài buổi. Sinh viên nghe cho biết, không thi, không lấy điểm.

Đến năm 1995, tôi được giao soạn bài giảng "Đại cương về báo chí truyền thông" và dạy thành chuyên đề năm cuối cho khóa 14, có kiểm tra, thi cử như các môn học khác. Từ đó, song song với việc cử 2 cán bộ trẻ là Phan Thanh Thích và Trần Văn Thiện ra Hà Nội học bằng 2 về báo chí, tôi được giao soạn khung chương trình đào tạo chi tiết và làm hồ sơ xin mở mã ngành báo chí.

Năm 1997, thầy Nguyễn Xuân Hòa, Trưởng bộ môn Lý luận văn học-Văn học nước ngoài nghỉ hưu, nhà trường tách Văn học nước ngoài thành một bộ môn riêng và thành lập bộ môn mới là Lý luận văn học và Báo chí. Anh Xớn đã làm phó cho thầy Hòa lâu nay, đúng ra anh phải làm trưởng bộ môn, nhưng anh biết tôi là người đam mê báo chí nên đã từ chối và đề xuất tôi thay anh làm công việc này. Trong suốt thời gian gần 9 năm, tôi vào Nam ra Bắc xây dựng chương trình, ngược xuôi để xin được mã ngành đào tạo, anh là người tham mưu đắc lực, tư vấn, giúp đỡ tôi rất nhiều. Có ngành báo chí phát triển như hôm nay, anh góp một phần công sức không nhỏ.

Đối với anh Xớn, tất tần tật mọi thứ trên đời đều không có gì quan trọng. Cứ sống và làm điều mình muốn, chỉ cần không hỗ thẹn với lương tâm là được. Tình nghĩa mới là điều quan trọng. Nhất là tình cảm đối với học trò. Anh coi học trò như bạn. Những bạn nam mà biết uống bia rượu càng tốt. Nữ thì phải đẹp, không được đẹp người thì phải đẹp nết. Đôi khi anh như một tín đồ sùng bái cái đẹp, luôn tôn trọng cái quyền được đẹp của nữ giới. Anh sống hết lòng với bạn/học trò.

Đám cưới con trai thầy Nguyễn Xớn, Nguyễn Gia Tĩnh - Ảnh: P.P.P

Đám cưới con trai thầy Nguyễn Xớn, Nguyễn Gia Tĩnh - Ảnh: P.P.P

Có một sinh viên, trong quá trình học có đôi lần chén chú, chén anh với nhau. Khi bạn ấy ra trường, đến chào anh để về quê. Anh dốc túi chỉ còn mấy nghìn lẻ, nên lặng lẽ leo lên gỡ lấy cái bóng đèn néon trên trần nhà đem đi bán, (thay vào đó cái bóng đèn cũ đã cháy, cho vợ đi làm về khỏi la), mua được một xị rượu và một chút mồi về uống chia tay với học trò. Thời ấy còn bao cấp, đời sống còn quá khó khăn, chị Yến làm bên thủy sản còn xoay xở được. Đồng lương giảng viên quèn của anh, mỗi tháng nộp xong cho vợ thì chẳng còn gì.

Người học trò đó sau này là một trong những người thành đạt, trở thành một “quan đầu tỉnh” được Nhân dân tin yêu. Còn rất nhiều trường hợp khác, các em ở nhiều khóa khác, cũng đều được anh đối xử như vậy, không thể kể hết. Chỉ tội cho chị Yến. Chị là một trong những người tiêu biểu cho phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam: Yêu chồng, thương con, suốt đời tần tảo vì chồng con, giàu đức hy sinh và cam chịu. Thật may mắn cho anh đã có được chị. Chỉ có chị mới chịu đựng được tính khí của chồng mình.

Anh là người chân tình, nhưng tính khí khá quyết liệt. Anh yêu ai là yêu hết lòng nhưng ghét cũng ghét đến tận cùng chạm đáy. Vì vậy, anh được nhiều người yêu mến, nhưng cũng không ít người ghét bỏ. Trong dáng người nhỏ con, thấp lùn, mái tóc bạc và gương mặt hao gầy, đôi mắt sáng hơi giống Văn Cao, người sáng tác Quốc ca, lại ăn sóng nói gió, đậm chất con người xứ Nghệ, chứa đựng một tấm lòng rộng rinh, không lấy gì lấp đầy kín được. Có lần Xớn tự nhận rằng: “Anh mình là Văn Cao, còn mình là Xớn Lùn!”. Khi giảng bài, mắt cứ để trên trần nhà, bảng đen thì vẽ rồng vẽ rắn, tay đầy phấn, học trò bên dưới tự do lặng lẽ ra vào...

Sau hơn 2 năm bị bệnh lao phổi, cơ thể suy kiệt dần, Nguyễn Xớn từ giã cõi tạm vào mùa lũ năm 2022. Hôm đó, tôi lẩm bẩm không biết bao nhiêu lần, rằng số anh là số khổ, suốt cuộc đời đi qua chiến tranh, đi học rồi đi làm ông giáo quèn... có thể nói là ít có niềm vui. Đã thế, đến lúc chết cũng chọn vào ngày khổ: Mưa gió bão bùng, nước lũ dâng cao... Nhiều học trò ở xa không về viếng tang thầy được! Quan tài quàn ở nhà văn hóa tổ dân phố.

Đêm ấy nước lũ dâng cao, tôi chạy xe về gửi ở trường, lội bộ qua, cùng với con trai và con rể của anh xem chừng, chỉ sợ nước dâng ngập quan tài. May trời thương, nước chỉ tráng qua nền. Sáng đưa anh đi, trời tạnh. Hạ huyệt rồi trời mới đổ mưa. Nhà báo Bùi Ngọc Long (khóa 17) đưa cho tôi chai rượu, tôi rưới trên quan tài anh, hơi rượu nồng nàn, đẫm trong nước mắt lẫn với nước mưa. Anh kết thúc một cuộc đời lặng lẽ dưới mưa rơi. Ngay trong giờ phút ấy, trong gào thét của gió mưa dưới rừng thông thảng thốt, tôi bàng hoàng như nghe bên tai lời của người thầy, người anh, người bạn tri âm tri kỷ của mình vang vọng từ cõi xa xăm: “Người rồi cũng chết, sách vở để làm gì?”.

                                                                                                      Phạm Phú Phong

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202608/nguoi-roi-cung-chet-sach-vo-de-lam-gi-ee53245/