Hồn xưa Thanh Chiêm
VHXQ - 'Gọi Dinh trấn Quảng Nam hay Dinh trấn Thanh Chiêm đều đúng. Nhưng cụm từ Dinh trấn Thanh Chiêm đã được giới sử học và nghiên cứu sử dụng lâu nay vì nó gắn liền với một vùng đất, cụ thể là làng Thanh Chiêm trong lịch sử'.

Hội thảo khoa học "Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ" được UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 24/8/2016. Ảnh: HOÀI AN
Vị thế lịch sử đã được khẳng định qua nhiều hội thảo khoa học
Đó là phát biểu nhấn mạnh của GS.TS. Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, tại Hội thảo khoa học “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ” do UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại thị xã Điện Bàn 10 năm trước, ngày 24/8/2016.
Nội dung này cũng từng được đề cập tại Hội thảo khoa học “Vai trò lịch sử của Dinh trấn Quảng Nam” năm 2002, nhân kỷ niệm 400 năm Dinh trấn Thanh Chiêm. Trước hội thảo, các nhà nghiên cứu đã khảo sát thực địa tại Thanh Chiêm (nay thuộc phường Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng).
Tại hội thảo, cố GS. Trần Quốc Vượng nêu quan điểm và được nhiều đại biểu đồng tình: “Dinh trấn Quảng Nam có vai trò cực kỳ quan trọng trong 2 thế kỷ 17, 18 đối với Đông Á và thế giới… Năm 1602, khi Nguyễn Hoàng được đưa vào trấn và nhờ sự sắp xếp tài tình của ông, Dinh trấn Thanh Chiêm mới thật sự nổi bật”.
Quan điểm về vai trò của Dinh trấn Thanh Chiêm tiếp tục được khẳng định tại Hội thảo quốc gia “Quảng Nam - 550 năm hình thành và phát triển (1471 - 2021)” cuối năm 2021. Trong Báo cáo đề dẫn, PGS.TS. Bùi Nhật Quang, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dẫn Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử cổ nhất của Việt Nam còn lưu giữ được tương đối đầy đủ đến ngày nay, ghi nhận: “Tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành đặt làm Thừa tuyên Quảng Nam”.
Từ đó cho đến nay, trong suốt 555 năm, con người và vùng đất Quảng Nam luôn hiện diện ở vị trí trang trọng trong những trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. Vùng đất này phát triển phồn thịnh dưới thời các chúa Nguyễn, với Dinh trấn Thanh Chiêm từng là căn cứ thủy quân hùng mạnh, “đồng thời là nơi hình thành và phổ biến chữ Quốc ngữ sớm nhất ở Việt Nam”.
Cũng tại hội thảo này, trong tham luận “Vị thế của xứ Quảng trong tiến trình lịch sử Việt Nam”, sau khi “điểm danh” các công trình nghiên cứu về khoa học xã hội những năm qua, đặc biệt là lĩnh vực ngôn ngữ học, GS.TS. Trương Quốc Bình khẳng định: “Thanh Chiêm (Điện Bàn, Quảng Nam) chính là một trong những cái nôi khai sinh ra chữ Quốc ngữ - một tài sản văn hóa vô giá của cả quốc gia dân tộc”.

Một phần bức họa Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển, được nhiều nhà nghiên cứu cho là mô tả Dinh trấn Thanh Chiêm vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Nguồn: Bộ sưu tập số Bảo tàng Quốc gia Kyushu.
Chữ Quốc ngữ - di sản văn hóa mang dấu ấn Thanh Chiêm
Thanh Chiêm, từ đầu thế kỷ 17, là nơi được Giáo sĩ Francisco de Pina chọn để giảng đạo. Muốn người Việt hiểu điều mình nói và mình hiểu được điều người Việt nói, ông học tiếng Việt, dành rất nhiều thì giờ trong việc phát triển một thứ chữ mới bằng cách dùng ký âm Việt chuyển qua những mẫu tự chữ Bồ Đào Nha.
Theo tác giả Đỗ Quang Chính trong sách Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 - 1659 (Tủ sách Ra Khơi, Saigon, xuất bản lần đầu năm 1972), Francisco de Pina là giáo sĩ đầu tiên thông thạo việc giao tiếp với người Việt khi đó nên chỉ ông mới có khả năng ghi lại tiếng Việt bằng chữ La tinh.
Năm 1624, sau khi xếp đặt tiếng Việt thành hệ thống, Francisco de Pina mở lớp dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ muốn đến truyền giáo tại Việt Nam.
Sau khi ông bị chết đuối tại vùng cửa biển Hội An (Faifo) vào tháng 12 năm 1625, các giáo sĩ từng học tiếng Việt với ông tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chữ viết mới, trong đó có Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) - tác giả Tự điển Việt-Bồ-Latinh ra đời năm 1651. Giáo sĩ Đắc Lộ cho biết, nhờ một cậu bé 13 tuổi người Thanh Chiêm mà ông mới hiểu được hệ thống thanh điệu, lên xuống giọng của người Việt và đó là cơ sở quan trọng để đặt ra các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.
Trong lời tựa tập sách Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm chữ Quốc ngữ đầu tiên (NXB Tinh Việt Văn Đoàn, Saigon, 1961), các tác giả Nguyễn Khắc Xuyên, Phạm Đình Khiêm đã ghi nhận: “Việc sáng chế chữ Quốc ngữ là một công trình tập thể của một số giáo sĩ người Âu, đa số là Bồ Đào Nha, với sự tham gia trực tiếp của một số người Việt dạy tiếng mẹ đẻ cho các giáo sĩ”.
Vậy là, từ thế kỷ 17 trở đi, một thứ chữ mới xuất hiện và nhờ giản dị, dễ sử dụng mà chỉ sau 3 năm thử nghiệm nó ngày càng trở nên phổ thông và biến thành Quốc ngữ. Ban đầu, thứ chữ mới này có tên gọi là chữ Tây Quốc ngữ. Về sau được giản lược thành chữ Quốc ngữ và xuất hiện lần đầu vào năm 1867 trên Gia Định Báo.
“Chữ Quốc ngữ là một di sản lớn của dân tộc và của cả nhân loại”. Đây là nhận định mà nhà nghiên cứu Lê Nam đã nêu trong tham luận “Danh xưng Quảng Nam qua chữ viết Latinh đầu thế kỷ XVII” tại Hội thảo quốc gia “Quảng Nam - 550 năm hình thành và phát triển (1471 - 2021)”.
Tinh thần cởi mở của vùng đất Quảng Nam là cái nôi để những cuộc gặp gỡ Đông và Tây tạo nên một thành tựu văn hóa có ý nghĩa lâu dài đối với dân tộc. Sẽ không ngoa khi cho rằng những con chữ hôm nay cũng mang trong mình dấu ấn của một vùng đất biết đón nhận và dung hòa các giá trị mới.






























