Điều khiến Marco Polo kinh ngạc khi đến Trung Quốc
Trong những chuyến du hành ở Trung Quốc từ năm 1275 đến năm 1292, Marco Polo đều lấy làm kinh ngạc trước những thương thuyền đồ sộ.

Tác giả: John Micklethwait, Adrian Wooldridge/Omega+-NXB Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Công ty
“Công ty - Lược sử một ý tưởng cách mạng” của tác giả John Micklethwait và Adrian Wooldridge là cuốn sách mang đến một cái nhìn toàn diện về lịch sử hình thành và phát triển của công ty - từ những hình thức kinh doanh sơ khai đến các tập đoàn đa quốc gia hiện đại.
Điều khiến Marco Polo kinh ngạc khi đến Trung Quốc
Trong những chuyến du hành ở Trung Quốc từ năm 1275 đến năm 1292, Marco Polo đều lấy làm kinh ngạc trước những thương thuyền đồ sộ.
Khi La Mã sụp đổ, trọng tâm của đời sống thương mại chuyển sang phía đông - đến Ấn Độ, và đặc biệt là Trung Quốc và thế giới Hồi giáo. Nhà tiên tri Mohammed (569-632) là một thương nhân. Nếu tôn giáo mà ông sáng lập cấm cho vay nặng lãi, thì dẫu sao nó vẫn khuyến khích làm giàu có trách nhiệm: trong khi các doanh nhân Ki-to giáo thường thấy công việc mâu thuẫn với đức tin của họ, thì những thương nhân Hồi giáo như Sinbad có thể thấy mình là những anh hùng.
Bên cạnh lợi thế về mặt đạo đức này, họ còn có vài lợi thế về mặt địa lý. Thứ nhất, họ ở giữa phương Tây và phương Đông. Hàng nghìn thương nhân Hồi giáo đã đặt chân đến Trung Quốc trước khi Marco Polo xuất hiện. Và, thứ hai, nhiều người Ả-rập sống ở những nơi cằn cỗi chỉ có nền nông nghiệp sơ khai. Ở Mecca của Mohammed, một thanh niên hầu như không có việc gì làm ngoài việc trở thành một con buôn.
Trong khi đó, người Trung Quốc đã tạo ra một khoảng cách công nghệ khổng lồ so với phương Tây. Trong vòng một thập niên sau khi William Kẻ Chinh Phạt đánh bại Harold trong trận Hastings (1066), các xưởng Trung Quốc đã sản xuất 125.000 tấn sắt mỗi năm - một sản lượng mà châu Âu phải mất bảy trăm năm mới có thể đuổi kịp.
Người Trung Quốc đi tiên phong sử dụng tiền giấy. Trong những chuyến du hành ở Trung Quốc từ năm 1275 đến năm 1292, Marco Polo đều lấy làm kinh ngạc trước những thương thuyền đồ sộ đến mức có thể cung cấp khoang riêng cho sáu mươi thương nhân.

Tranh minh họa: Bản đồ Catalan, trích đoạn Marco Polo dọc Con đường Tơ lụa. Ảnh: National Bankof Belgium.
Ngay cả vào thời điểm Vasco da Gama đến Mũi Hảo Vọng ở Đông Phi vào năm 1497, những vị chủ nhà ăn mặc thật diêm dúa của ông, vốn đã quen với những con tàu lớn của Trung Quốc, đã lấy làm lạ không biết bằng cách nào ông có thể ra khơi trên những con thuyền nhỏ bé như vậy.
Lý do người Trung Quốc và người Ả-rập đánh mất vị thế dẫn đầu về kinh tế vào tay phương Tây vẫn còn là một cuộc tranh luận lớn. Ở đây chỉ cần nói rằng sự thất bại tương đối của họ trong việc phát triển các công ty là một phần trong những thiếu sót về địa lý và văn hoá rộng lớn của họ.
Luật Hồi giáo cho phép một hình thức đối tác thương mại linh hoạt là maqarada, cho phép các nhà đầu tư và thương nhân hùn vốn với nhau. Nhưng, trong hầu hết trường hợp, luật pháp dựa vào lời chứng miệng hơn là hợp đồng bằng văn bản. Và luật thừa kế bắt nguồn từ Kinh Qur’an đã cứng nhắc chia tài sản của một đối tác đã chết cho vô số thành viên gia đình (trái ngược với hệ thống châu Á, thường cho phép đối tác chỉ định một người thừa kế duy nhất).
Điều này có xu hướng ngăn cản các công ty Hồi giáo phát triển đến một quy mô mà ở đó họ cần huy động vốn từ bên ngoài.
Trong trường hợp của Trung Quốc, ý tưởng về các doanh nghiệp tư nhân lâu dài bị làm cho suy yếu bởi cả văn hoá lẫn sự can thiệp của nhà nước. Thương nhân Trung Quốc đã phát triển những hình thức đối tác phức tạp: đến thế kỷ 14, có không ít phạm trù khác nhau về nhà đầu tư và thương nhân. Nhưng những quan hệ đối tác này hiếm khi kéo dài hơn một vài chuyến đi biển.
Trong khi đó, nhiều đại “công ty” thực sự xuất hiện ở Trung Quốc thì lại dựa vào nhà nước. Những quan lại thế tập điều hành những doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong nhiều ngành công nghiệp, bao gồm cả đồ sứ. Các doanh nghiệp này thường được hưởng quy mô kinh tế khổng lồ - cho đến thế kỷ 18, những nhà máy Trung Quốc ấn tượng vượt xa bất cứ thứ gì phương Tây có thể có. Song những doanh nghiệp nhà nước độc quyền thì phải chịu vấn đề trái ngược với doanh nghiệp thương nhân: chúng không đủ ngắn hạn, nghĩa là tồn tại lâu hơn mức độ cần thiết. Chính sự rộng lớn của Trung Quốc đã chống lại chúng.
Nhưng chúng ta sẽ thấy, những doanh nghiệp nhà nước độc quyền châu Âu cũng không hiệu quả và tham nhũng, nhưng ít ra chúng được giữ trong tình trạng cảnh giác cao độ và bị ngăn không cho trở nên quá quan liêu bởi việc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nhà nước độc quyền từ các quốc gia khác.
Cuối cùng là quyết tâm bế quan tỏa cảng của Trung Quốc. [...] vào đầu thế kỷ 15, khi hoàng đế nhà Minh là Vĩnh Lạc, lên ngôi năm 1403, đã xây dựng một hạm đội bảo thuyền khổng lồ, mà ông phái đi khắp châu Á.
Nhưng sau khi Vĩnh Lạc băng hà năm 1424, con trai ông đã cho dừng hạm đội bảo thuyền và giao cho người đi biển lừng danh nhất của họ, Trịnh Hòa, một công việc trên đất liền. Quan trọng hơn nữa là ông còn ra lệnh đình chỉ tất cả hoạt động thám hiểm thương mại. Những hoàng đế về sau đã xây dựng lại quan hệ thương mại với các nước Á châu khác, nhưng tham vọng của họ bị hạn chế.
Năm 1793, hoàng đế Trung Quốc đã gửi một thông điệp đến George III của Anh: “Như đại sứ của ngài có thể thấy, chúng tôi sở hữu mọi thứ… Do vậy, không cần thiết phải nhập cảng những sản phẩm chế tạo của ngoại di để đổi lấy sản phẩm của chúng tôi”. Đây là một thái độ đáng tiếc, vì bấy giờ các thương nhân Trung Quốc phải đối mặt với một hình thức tổ chức kinh doanh mới cực kỳ ghê gớm.

