Cuộc chạy đua trong đêm giữ lại cơ hội đi lại cho người thợ mỏ
Nam công nhân mỏ 37 tuổi đứt dây thần kinh tọa sau tai nạn được ghép thần kinh bảo quản trong đêm, giữ lại cơ hội phục hồi.
Nam công nhân 37 tuổi bị đa chấn thương do đá đè, mất hoàn toàn vận động chi dưới bên tổn thương. Khi được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức sau khoảng 15 giờ, dây thần kinh tọa đã đứt rời, hai đầu co rút, tạo khoảng khuyết gần 4 cm.
Sau khi đánh giá mức độ tổn thương, các bác sĩ nhận định đây là trường hợp đặc biệt, cần can thiệp sớm để giữ khả năng tái tạo thần kinh. Lãnh đạo trực quyết định ưu tiên đưa bệnh nhân vào phòng mổ ngay trong đêm.
Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp kiểm soát chảy máu, cắt lọc toàn bộ tổ chức dập nát rồi bộc lộ vùng tổn thương. Kết quả cho thấy dây thần kinh tọa đã đứt hoàn toàn.
Hai đầu thần kinh không còn nằm sát nhau mà co rút về hai phía, để lại khoảng trống gần 4 cm. Với khoảng cách này, việc khâu nối trực tiếp không thể thực hiện.
“Đây là thời điểm khó khăn nhất của ca mổ. Nếu chỉ xử lý vết thương rồi đóng lại, người bệnh gần như không còn cơ hội phục hồi chức năng tốt. Nhưng nếu lấy thần kinh tự thân để ghép, chúng tôi lại phải tạo thêm một tổn thương ở vị trí khác”, ThS.BS Trần Ngọc Vân, thành viên ê-kíp phẫu thuật, nói.

Các bác sĩ thăm khám cho người bệnh. (Ảnh: Nhật Đức)
Các bác sĩ phải cân nhắc giữa việc lấy một đoạn thần kinh lành trên chính cơ thể người bệnh và sử dụng vật liệu ghép sẵn có.
Sau khi hội chẩn toàn tua trực và xin ý kiến lãnh đạo bệnh viện, phương án ghép thần kinh bảo quản được lựa chọn. Ngay trong đêm, Ngân hàng mô Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được huy động để cung cấp đoạn thần kinh phù hợp.
Dưới kính hiển vi, các phẫu thuật viên đưa đoạn thần kinh bảo quản vào vị trí bị khuyết, nối hai đầu thần kinh tọa đã đứt rời, tạo thành cầu nối để các sợi thần kinh của chính người bệnh có thể phát triển dọc theo đó.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình thẩm mỹ, tổn thương thần kinh tọa ở đoạn cao là một trong những dạng khó của vi phẫu thần kinh.
“Khác với mạch máu, thần kinh sau khi nối không thể hoạt động trở lại ngay. Các sợi thần kinh phải tái sinh từng chút một, trung bình khoảng 1 mm mỗi ngày”, ông nói.
Từ vùng mông xuống bàn chân là quãng đường dài. Vì vậy, ngay cả khi nối thần kinh thành công, người bệnh vẫn phải chờ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để đánh giá khả năng phục hồi.
Trong thời gian đó, cơ và các đơn vị vận động không được kích thích thần kinh lâu ngày có thể dần thoái hóa, khiến khả năng hồi phục giảm đi.
“Với những trường hợp đủ điều kiện, chúng tôi cố gắng tái tạo thần kinh ngay trong cấp cứu. Mục tiêu không phải hứa hẹn người bệnh sẽ hồi phục hoàn toàn mà là giữ lại cơ hội phục hồi chức năng lớn nhất có thể”, PGS Hà cho biết.
Việc sử dụng thần kinh bảo quản giúp người bệnh không phải lấy thêm một đoạn thần kinh lành ở vị trí khác. Đây cũng là lựa chọn đáng chú ý trong những trường hợp tổn thương thần kinh có khoảng khuyết lớn sau chấn thương.
Theo PGS Hà, sự phát triển của Ngân hàng mô giúp các bác sĩ có thêm vật liệu để thực hiện những kỹ thuật tái tạo phức tạp, không chỉ với thần kinh mà còn với gân, xương, sụn và nhiều loại mô khác.
Sau 10 ngày điều trị, bệnh nhân tỉnh táo, toàn trạng ổn định. Vết thương liền tốt, chưa ghi nhận dấu hiệu nhiễm trùng. Tuy nhiên, ca phẫu thuật mới chỉ là bước khởi đầu. Người bệnh sẽ được phục hồi chức năng tích cực và tái khám theo các mốc một tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng.
Các bác sĩ sẽ theo dõi quá trình tái sinh thần kinh, sự phục hồi cảm giác và vận động của chi dưới để đánh giá hiệu quả điều trị. “Đối với những tổn thương thần kinh lớn, mỗi milimet thần kinh tái sinh đều mang theo hy vọng. Người bệnh có thể chỉ phục hồi được một phần vận động hoặc cảm giác, nhưng từng phần đó đều có ý nghĩa rất lớn với chất lượng cuộc sống và khả năng trở lại lao động”, PGS Hà nói.
Đây là lần đầu kỹ thuật ghép thần kinh bảo quản được triển khai tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Nhóm điều trị cho biết, theo hiểu biết hiện nay, đây cũng có thể là một trong những trường hợp đầu tiên được áp dụng kỹ thuật này trong cấp cứu tại Việt Nam.
