Xuân Bính Ngọ và ngàn dặm Huyền Trân
Mùa xuân này-Bính Ngọ 2026, không thể không nhớ về một năm Bính Ngọ khác trong lịch sử, nơi khởi đầu cho vùng đất Quảng Trị ngày nay, không thể không nhớ về một người con gái đất Đại Việt chấp nhận ngàn dặm tha hương để mang về cho non sông một vùng đất tráng lệ án ngữ biên địa phương Nam từ thế kỷ XIV. Đất ấy bây giờ là cả một vùng rộng dài từ Quảng Trị tới bên kia đèo Hải Vân.
Mùa hạ năm Bính Ngọ 1306, công chúa Huyền Trân cất bước về làm dâu Vương quốc Champa. Ái nữ của Quốc vương Đại Việt sánh duyên với một vị quân vương tài ba thao lược đất Chiêm Thành là Chế Mân. Nhưng nếu chỉ có vậy, chuyện tình này sẽ không khiến sử sách dành cho nhiều chữ nghĩa đến thế. Cuộc tình ấy đã mang về cho Đại Việt hai châu Ô, Lý, mang về hòa hiếu cho hai dân tộc, biến đất Champa thành phần đầu biên địa phương Nam, để lại cho đời sau một tình sử và những điệu ca âm vang khắc khoải… Để bây giờ, hơn 7 thế kỷ sau, người đời vẫn nhắc đến Huyền Trân công chúa như một bậc nữ liệt đã hy sinh tình riêng vì nghiệp lớn của xã tắc.
Trên đường Hồ Chí Minh, đoạn giao nhau với Quốc lộ 9 ở Km 12, chạy vào chợ phiên Cam Lộ, qua ngã ba cầu Đuồi có một tấm biển sơn xanh với dòng chữ màu trắng rất lớn: “Nhà thờ Huyền Trân công chúa, con vua Trần Nhân Tông tại xóm Chùa, thôn Kim Đâu, xã Cam An, Cam Lộ. Năm 1306, công chúa lấy vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lý” và một mũi tên hướng về phía đông chỉ khoảng cách 8km. Rất nhiều khách đã theo hướng mũi tên chỉ để tìm về di tích lịch sử này nhưng ít ai tìm thấy. Bởi khác với những hình dung từ tấm biển chỉ đường rất lớn kia, ngôi miếu thờ “người đẹp thiên kim”-công chúa Huyền Trân, người đã hy sinh tình riêng cho sự hòa hiếu của hai quốc gia Đại Việt và Champa-là một ngôi miếu nhỏ, nép mình bên một bàu nước ở làng Kim Đâu. Và nếu như cái tấm biển chỉ dẫn trên kia được mang về đặt ở Quốc lộ 1, ngay ngã tư Sòng thì khoảng cách từ Quốc lộ 1 vào miếu thờ chỉ chưa đầy 2km.

Miếu thờ Huyền Trân ở làng Kim Đâu (nay là xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị) - Ảnh: Đ.D
Khi chúng tôi tìm về, thắp một nén nhang vọng bà, nhìn ngôi miếu nhỏ bên bàu nước lưu dấu một cuộc ra đi sau 7 thế kỷ vẫn còn thảng thốt trên những dòng sông, dư vang trong điệu Nam bình của người miền Thuận Hóa: “Nước non ngàn dặm ra đi/Mối tình chi/mượn màu son phấn/đền nợ Ô, Lý…”.
Sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục, quyển thứ 8 ghi:
“Bính Ngọ, năm thứ 14 (1306). (Nguyên, năm Đại Đức thứ 10)... Tháng 6, mùa hạ. Gả Huyền Trân công chúa cho Vua Chiêm Thành là Chế Mân, Chế Mân đem dâng đất châu Ô và châu Lý. Trước đây, Thượng hoàng đi du lịch đến một địa phương, nhân tiện sang chơi Chiêm Thành, hẹn gả con gái cho chúa Chiêm. Sau Chế Mân sai bầy tôi là bạn Chế Bồ Đại mang vàng, bạc, kỳ hương và các phẩm vật lạ để xin cưới. Quần thần trong triều đều nói là không nên gả, chỉ có Văn Túc vương Đạo Tái chủ trương nên gả và Trần Khắc Chung tán thành. Chế Mân lại xin đem châu Ô, châu Lý để làm lễ cưới, lúc ấy ý vua mới quả quyết cho Huyền Trân công chúa về với vua Chiêm…”.
Chỉ mấy dòng như thế trong sử cũ nhưng bao nhiêu nỗi niềm còn âm vang qua điệp trùng ngày tháng. Miếu thờ Huyền Trân tương truyền được xây từ mấy thế kỷ trước, bên bến sông đất Việt, sau khi công chúa xuống thuyền về đất Chiêm. Trong ký ức mờ sương hun hút của các bô lão làng Kim Đâu mà tôi gặp, họ đều kể rằng ngôi miếu ngày xưa rất to, xây bằng gạch theo lối vòm cuốn thành ba tầng, mái lợp ngói liệt có đường cổ diêm (là kiểu đền miếu mang phong cách thời Lê) trước miếu có tam quan, sân gạch, trước nữa là một con đường rợp tre trúc, ngoài kia là bến sông…
Hơn 7 thế kỷ rồi, sông xưa đổi dòng chỉ còn bàu nước nhỏ mang hồn bến nước soi bóng ngôi miếu u tịch. Sách xưa có câu “Thương hải tang điền”, biển xanh hóa thành ruộng dâu- cái từ dâu bể ấy cũng vận vào ngôi miếu thờ này khi tất cả vẻ nguy nga của miếu thờ bà chúa thuở nào đã bị bom đạn thời chiến tranh trên mảnh đất Quảng Trị san thành bình địa, chỉ còn dư ảnh lưu dấu trên những viên gạch cũ đã rêu phong vương quanh ngôi miếu vừa được dân trong vùng tôn tạo lại cách nay mười mấy năm, cũng chỉ là một nơi để khói hương tưởng vọng, đơn sơ như bao nhiêu ngôi miếu vắng thờ những thần cây đa, ma cây gạo bên đường.
Chỉ một điều rất lạ là bên kia bầu nước đối xứng với miếu thờ Huyền Trân công chúa là một cái giếng Chăm rất đẹp, với những thanh đá được đục mộng lắp ghép như hàng mộc. Cái giếng như một ngôn ngữ về tấm lòng của công chúa vương triều Đại Việt với đất Chiêm.
Làm dâu đất Chiêm chưa đầy năm, công chúa Huyền Trân thành hoàng hậu góa bụa. Cũng sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục chép:
“Tháng 9, mùa thu. Nước to. Sứ thần Chiêm Thành sang nước ta. Chúa Chiêm là Chế Mân mất, thế tử là Chế Đa Gia sai bầy tôi sang dâng voi trắng và báo tin buồn. Tháng 10, mùa đông. Hạ lệnh cho Hành khiển Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành, đưa Huyền Trân công chúa về nước. Theo tục Chiêm Thành, mỗi khi chúa trong nước mất, thì vợ chúa phải lên đàn thiêu để chết theo. Nhà vua được tin đó, sai Trần Khắc Chung mượn cớ sang thăm, và nói rằng: “Công chúa hỏa táng, thì không có ai làm chủ đàn chay, chi bằng công chúa ra ngoài bãi biển chiêu hồn chúa công cùng về, lúc ấy sẽ lên đàn thiêu là tiện hơn cả”. Người Chiêm Thành nhận lời. Khi đã ra ngoài biển rồi, Khắc Chung dùng chiếc thuyền nhỏ cướp lấy công chúa đưa về”. (Sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục, quyển thứ 8).
Lần giở trong sử cũ, cái miền đất Ô Lý này kể từ khi Lý Thường Kiệt và cuộc Nam tiến đầu tiên năm 1069 cho đến khi trở thành sính lễ cưới Huyền Trân năm 1306, hiếm khi nào vắng những cuộc giao tranh trong hơn hai thế kỷ kia. Nó chỉ bình yên sau khi bước chân của Huyền Trân về đến đất Chiêm và sau này thành Châu Thuận, Châu Hóa của đất Đại Việt.
Những gì miền “đất sính lễ” của Huyền Trân góp vào trong gia tài của giang sơn Đại Việt hẳn khó mà kể hết, không chỉ là vị trí chiến lược của đèo Hải Vân, không chỉ là những điệu ca có từ sau cuộc tình Ô Lý, không chỉ là hòa hiếu xã tắc. Phải hiểu rằng, từ cái phên dậu này mà cương vực Đại Việt tiến dần về phương Nam. Dĩ nhiên trước đó còn là bao nhiêu máu xương của hàng vạn con dân đất Việt...
Nhiều khi nghĩ về công cuộc mở mang bờ cõi của cha ông, không thể không nhớ rằng để mở cõi là phải nghĩ đến vó ngựa bụi mù, đến gươm đao loang ánh thép. Nhưng với Huyền Trân, đó là công cuộc mở cõi không phải bằng thanh gươm vó ngựa mà bằng một cuộc ra đi để đất nước rộng dài. Giang sơn là một khái niệm rất mênh mông, nhưng có những mảnh giang sơn lại âm thầm trong số phận một người con gái của đất Đại Việt.




























