Xem trọng 'tài nguyên mềm' của kinh tế biển

Trong một thời gian khá dài, khi nói đến tiềm năng biển, người ta thường nghĩ trước hết đến dầu khí, thủy sản, cảng biển, du lịch, trong khi phần “tài nguyên mềm” là văn hóa chưa phải lúc nào cũng được nhìn nhận tương xứng với tiềm năng.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tri ân công đức tiền nhân mở cõi và các binh phu Hoàng Sa Bắc Hải là một trong những điểm nhấn văn hóa của Đặc khu Lý Sơn (Ảnh: Hữu Danh)

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tri ân công đức tiền nhân mở cõi và các binh phu Hoàng Sa Bắc Hải là một trong những điểm nhấn văn hóa của Đặc khu Lý Sơn (Ảnh: Hữu Danh)

Góp sức rõ nét trong hiệu quả kinh tế

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mở ra tầm nhìn mới về biển: không chỉ là không gian tài nguyên, kinh tế hay quốc phòng, an ninh, mà còn là không gian sinh tồn, văn hóa và phát triển của dân tộc. Trong tầm nhìn ấy, xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc, bảo tồn và phát huy di sản biển đảo, nâng cao đời sống cộng đồng cư dân biển có ý nghĩa đặc biệt.

Một bãi biển đẹp có thể kéo du khách đến một lần, nhưng chính câu chuyện của vùng đất, con người, ẩm thực, lễ hội, ký ức và bản sắc mới có khả năng khiến họ ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và muốn quay trở lại. Chính vì vậy, trên nền tảng tài nguyên văn hóa biển phong phú, Khánh Hòa đang từng bước kiến tạo cho du lịch theo chiều sâu, xem văn hóa biển như hạ tầng mềm định hướng quy hoạch, xây dựng sản phẩm và tổ chức không gian. Một trong những hướng đi có thể tạo bước đột phá trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển gắn với phát triển du lịch là xây dựng “Bản đồ văn hóa biển Khánh Hòa” trên nền tảng số; gìn giữ những “không gian văn hóa sống” - nơi di sản được hình thành, bảo tồn, trao truyền và tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng. Hình thành hành lang văn hóa biển Khánh Hòa như tuyến “Ký ức làng biển”, tuyến “Hương nho - vị muối - sắc gốm”… Nhờ đó, trong 6 tháng đầu năm 2026, Khánh Hòa đón khoảng 12 triệu lượt khách, tăng hơn 40% so với cùng kỳ; khách quốc tế đạt hơn 4,6 triệu lượt, doanh thu du lịch khoảng 42.500 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại Đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi) nơi đây gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh có lịch sử khoảng 3.000 năm, mang đậm dấu ấn lịch sử chủ quyền biển đảo của dân tộc với các di tích tiêu biểu như: Âm linh tự, mộ lính Hoàng Sa và Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa - những di sản văn hóa độc đáo phản ánh truyền thống bảo vệ chủ quyền biển đảo qua nhiều thế hệ. Các công trình tín ngưỡng, lễ hội dân gian như chùa Hang, lễ hội đua thuyền Tứ linh hay Lăng Tân thờ cá Ông đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa biển đảo riêng biệt. Với hệ thống di tích mang giá trị văn hóa, lịch sử và kiến trúc đặc biệt đã trở thành điểm đến thu hút nhiều du khách đến thăm quan và trải nghiệm. Đến năm 2030, Lý Sơn dự kiến đón khoảng 400 nghìn lượt khách, trong đó có 10 nghìn lượt khách quốc tế; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 900 tỷ đồng; ngành du lịch - dịch vụ đóng góp khoảng 60% GRDP của đặc khu.

Tuy nhiên, chia sẻ từ góc nhìn địa phương, ông Lê Quốc Việt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cho biết, phần lớn các làng biển ven hiện vẫn thiếu những mô hình thực sự đặc sắc để níu chân du khách dài ngày. Nhiều nơi mới dừng ở khai thác cảnh quan hoặc trải nghiệm ngắn hạn, trong khi sản phẩm du lịch cộng đồng từ trải nghiệm văn hóa, còn thiếu chiều sâu, liên kết và người dân chưa thực sự hưởng lợi ổn định từ hoạt động du lịch. Nhiều khu vực biển phía nam thường chịu ảnh hưởng của gió mùa, biển động kéo dài. Vì vậy, nếu chỉ phụ thuộc vào tắm biển hoặc nghỉ dưỡng, sẽ khó phát triển ổn định quanh năm.

Trong khi đó, anh Phạm Anh Việt, Giám đốc Hợp tác xã Du lịch cộng đồng Mân Thái - Thọ Quang cho rằng áp lực lớn nhất hiện nay là giữ được văn hóa và tinh thần làng chài giữa quá trình đô thị hóa nhanh chóng của vùng ven biển. Bởi điều quan trọng của du lịch cộng đồng là để người dân tiếp tục hiện diện trong toàn bộ hoạt động du lịch, thay vì bị đứng ngoài quá trình phát triển. Khi cư dân địa phương cùng tham gia làm dịch vụ, kể chuyện văn hóa biển và giữ gìn nếp sống làng chài, điểm đến mới có thể tạo dấu ấn riêng.

Muốn văn hóa biển bền vững, cần mở rộng thêm các sản phẩm gắn với làng nghề, sinh thái đầm - sông - vịnh, thể thao biển hay trải nghiệm văn hóa, để tạo chuỗi dịch vụ hoạt động quanh năm, ông Lê Quốc Việt nhấn mạnh.

Hình thành thương hiệu khác biệt, đủ sức cạnh tranh

Xu hướng cạnh tranh trong du lịch biển thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng tạo ra trải nghiệm khác biệt, gắn với bản sắc địa phương và tính bền vững của điểm đến. Cộng đồng địa phương phải trở thành một phần của điểm đến. Khi người dân cùng tham gia giữ gìn môi trường, văn hóa và hưởng lợi từ du lịch, các làng biển mới có thể hình thành thương hiệu đủ sức cạnh tranh bền vững.

Ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam

Nếu được đánh thức đúng cách, dựa trên văn hóa cư dân, hệ sinh thái tự nhiên và sự tham gia thực chất của cộng đồng, các địa phương ven biển sẽ không chỉ mở rộng sản phẩm du lịch, mà còn có cơ hội hình thành một không gian du lịch biển - đảo có chiều sâu và bản sắc riêng trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia.

Để giải quyết bất cập từ thực tiễn, một chuyên gia cho rằng, cần tổng kiểm kê, nhận diện và số hóa tài nguyên văn hóa biển Việt Nam, từ cảnh quan văn hóa, tri thức dân gian, làng nghề, lễ hội đến ký ức và lịch sử cộng đồng; có thể xây dựng bản đồ số văn hóa biển Việt Nam, kết nối với dữ liệu về di sản, du lịch, môi trường và quy hoạch không gian biển để vừa phục vụ bảo tồn, vừa hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo sản phẩm và xúc tiến du lịch. Cùng với đó, cần xây dựng chuỗi giá trị và hành lang văn hóa - du lịch biển liên vùng. Cách làm này cũng tạo điều kiện để các địa phương bổ sung thế mạnh cho nhau, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng thị trường cho các sản phẩm văn hóa, sáng tạo gắn với biển.

Đồng thời cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng và tạo điều kiện cho nhiều chủ thể cùng tham gia. Một phần nguồn thu từ khai thác di sản và du lịch văn hóa cần được tái đầu tư cho bảo tồn, môi trường, thiết chế văn hóa và sinh kế cộng đồng; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, quỹ văn hóa, tổ chức xã hội, cộng đồng sáng tạo và các hình thức hợp tác công - tư phát triển sản phẩm văn hóa biển.

Văn hóa biển chỉ thực sự sống khi nó được cộng đồng hôm nay tiếp tục sáng tạo, làm giàu và truyền đi bằng những phương thức có sức thuyết phục đối với xã hội đương đại, vị chuyên gia này khẳng định.

Phương Minh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/xem-trong-tai-nguyen-mem-cua-kinh-te-bien-186317.html