Từ Đất Tổ, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển

Ngày 15/8, đoàn công tác của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã khảo sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội tại tỉnh Phú Thọ. Từ thực tiễn Đất Tổ giàu truyền thống và sở hữu hệ thống di sản đặc sắc, có thể thấy rõ hơn yêu cầu đưa văn hóa từ vị trí một lĩnh vực cần bảo tồn trở thành nguồn lực nội sinh, góp phần nâng cao chất lượng con người, chất lượng sống và sức cạnh tranh của địa phương trong giai đoạn phát triển mới.

Lễ rước kiệu trong Lễ hội Đình Hùng Lô năm 2026. Ảnh: Phương Thanh

Lễ rước kiệu trong Lễ hội Đình Hùng Lô năm 2026. Ảnh: Phương Thanh

Từ nghị quyết đến những chuyển động cụ thể

Phú Thọ không chỉ là một địa danh trên bản đồ hành chính mà còn là không gian biểu tượng của cội nguồn dân tộc, nơi những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và ký ức cộng đồng góp phần nuôi dưỡng ý thức về nguồn cội của người Việt Nam. Chính vì vậy, câu chuyện phát triển văn hóa ở Phú Thọ có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một địa phương. Làm tốt văn hóa ở Đất Tổ không chỉ giúp Phú Thọ phát triển mà còn góp phần bồi đắp bản sắc, niềm tự hào và sức mạnh tinh thần của cả dân tộc.

Qua nghiên cứu báo cáo của UBND tỉnh phục vụ đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, điều tôi ghi nhận trước hết là sự chủ động và quyết tâm khá rõ của Phú Thọ trong việc đưa những chủ trương mới về văn hóa vào cuộc sống.

Ngay sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành, tỉnh đã nhanh chóng xây dựng Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển văn hóa, con người Phú Thọ giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; UBND tỉnh phê duyệt Đề án phát triển văn hóa, con người cùng nhiều chương trình, kế hoạch chuyên ngành. HĐND tỉnh cũng ban hành các chính sách hỗ trợ người trực tiếp trông coi di tích, các đội văn nghệ quần chúng và tu bổ, tôn tạo di tích. Điều đó cho thấy tỉnh đã chú ý đến một khâu vốn thường là điểm nghẽn của lĩnh vực văn hóa: chuyển từ chủ trương sang cơ chế và tổ chức thực hiện cụ thể.

Du khách quốc tế trải nghiệm hát Xoan cùng các nghệ nhân tại Đình Hùng Lô. Ảnh: Phương Thanh

Du khách quốc tế trải nghiệm hát Xoan cùng các nghệ nhân tại Đình Hùng Lô. Ảnh: Phương Thanh

Tôi cũng đánh giá cao cách Phú Thọ đặt văn hóa trong trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Trên 95% cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong hệ thống chính trị đã được học tập, quán triệt các nghị quyết; công tác tuyên truyền được triển khai từ báo chí, phát thanh - truyền hình, hệ thống thông tin cơ sở đến các nền tảng số và hoạt động văn hóa lưu động. Việc kiểm tra, giám sát cũng được đẩy mạnh tới cơ sở. Đây là một chuyển biến cần thiết, bởi nếu văn hóa chỉ được coi là việc riêng của ngành Văn hóa thì rất khó tạo ra kết quả thực chất. Văn hóa phải đi vào quy hoạch, đầu tư, giáo dục, du lịch, truyền thông, quản trị địa phương và đời sống cộng đồng.

Đáng chú ý, nhận thức ấy bước đầu được chuyển thành nguồn lực cụ thể. Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, phương án phân bổ vốn sự nghiệp năm 2026 dành 80% cho cấp xã; nguồn vốn đầu tư phát triển 319,464 tỷ đồng được đề xuất tập trung cho cấp xã, chủ yếu để xây dựng thiết chế văn hóa - thể thao, nhà văn hóa và hạ tầng văn hóa đọc ở cơ sở. Tôi cho rằng hướng đi này đáng khích lệ. Sức sống thật sự của văn hóa không chỉ nằm trong những công trình lớn hay các sự kiện quy mô mà được kiểm chứng trong đời sống hằng ngày của người dân, ở xã, phường, thôn, tổ dân phố, nơi người dân trực tiếp sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.

Văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ được tái hiện qua Lễ hội văn hóa dân gian đường phố năm 2026. Ảnh: Phương Thanh

Văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ được tái hiện qua Lễ hội văn hóa dân gian đường phố năm 2026. Ảnh: Phương Thanh

Những kết quả bước đầu của Phú Thọ khá rõ nét. Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Văn hóa đã dàn dựng 33 chương trình nghệ thuật, phục vụ 44 sự kiện chính trị; tổ chức 30 buổi biểu diễn phục vụ đồng bào miền núi, hơn 1.000 buổi chiếu phim lưu động với trên 160 nghìn lượt người xem và phục vụ gần 264 nghìn lượt bạn đọc. Công tác bảo tồn Hát Xoan, lập hồ sơ di sản, xây dựng môi trường văn hóa cơ sở tiếp tục được quan tâm. Tỉnh đồng thời đặt mục tiêu bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa phi vật thể, đẩy mạnh số hóa di tích, bảo vật và từng bước đưa Mo Mường vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.

Một chuyển động khác cũng đáng chú ý là sự kết nối ngày càng rõ hơn giữa văn hóa với du lịch và phát triển kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Phú Thọ đón trên 10,5 triệu lượt khách tham quan, tổng doanh thu du lịch ước đạt 10.755 tỷ đồng; các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm gắn với bản sắc các dân tộc được chú trọng hơn.

Những con số trên cho thấy văn hóa ở Phú Thọ đang từng bước được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn và đầu tư ngân sách mà còn là một nguồn lực phát triển. Việc tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành “trung tâm văn hóa về cội nguồn của dân tộc Việt Nam”, xây dựng con người Phú Thọ với các phẩm chất yêu nước, đoàn kết, tự cường, đổi mới sáng tạo, nhân ái là một định vị đúng và có tính chiến lược. Vấn đề đặt ra tiếp theo là làm thế nào để tiềm năng văn hóa rất đặc biệt ấy được chuyển hóa thành năng lực phát triển mới của địa phương.

Từ tài nguyên văn hóa đến hệ sinh thái phát triển

Theo tôi, trước hết Phú Thọ cần đi thêm một bước từ tư duy “có nhiều tài nguyên văn hóa” sang “tổ chức tài nguyên văn hóa thành một hệ sinh thái phát triển”. Đền Hùng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan, Mo Mường, không gian văn hóa Mường, hệ thống lễ hội, di tích, văn hóa làng, nghề truyền thống, ẩm thực và các cộng đồng thực hành di sản là những lợi thế đặc biệt. Nhưng tài nguyên tự thân chưa tạo nên phát triển; điều quyết định là cách kể câu chuyện về những tài nguyên ấy, kết nối chúng với giáo dục, du lịch, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, công nghệ, truyền thông và thị trường. Vì thế, “trung tâm văn hóa về cội nguồn” không nên chỉ được hiểu là nơi có nhiều di sản hoặc tổ chức nhiều lễ hội, mà phải là nơi nghiên cứu, giáo dục, trải nghiệm, sáng tạo và lan tỏa các giá trị cội nguồn bằng ngôn ngữ của thời đại mới.

Tôi đặc biệt chú ý đến định hướng “Mỗi di sản - Một câu chuyện - Một sản phẩm số - Sức sống từ truyền thống đến hiện đại”. Nếu làm tốt, đây có thể trở thành một chương trình mang dấu ấn riêng của Phú Thọ. Mỗi di sản cần có một câu chuyện đủ hấp dẫn; mỗi câu chuyện cần được chuyển hóa thành những sản phẩm cụ thể như phim ngắn, hoạt hình, podcast, trò chơi, quà tặng, thiết kế sáng tạo, chương trình giáo dục hay trải nghiệm du lịch. Khi đó, di sản không đứng yên trong không gian bảo tồn mà bước vào đời sống đương đại, tạo thêm cơ hội sinh kế, việc làm và sự tham gia của thế hệ trẻ.

Cùng với đó, thiết chế văn hóa cơ sở cần được quan tâm theo hướng chú trọng hiệu quả vận hành thay vì chỉ hoàn thành công trình. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% xã, phường có thiết chế văn hóa, thể thao và phần lớn hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Đây là mục tiêu tích cực, nhưng phải tránh tình trạng có nhà văn hóa mà thiếu đời sống văn hóa bên trong. Khi đầu tư một thiết chế, cần đồng thời trả lời ba câu hỏi: xây cái gì, ai vận hành và người dân được hưởng lợi gì. Thiết chế văn hóa mới nên đa chức năng hơn, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng, đọc sách, biểu diễn, tập luyện thể thao, trải nghiệm di sản, vừa có thể là không gian học kỹ năng số và sáng tạo của thanh thiếu niên.

Báo cáo của tỉnh cũng thẳng thắn chỉ ra đội ngũ cán bộ văn hóa ở cơ sở còn thiếu, năng lực chưa đồng đều, nhiều cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, đầu tư cho cán bộ văn hóa, nghệ nhân, cộng tác viên và hạt nhân văn nghệ quần chúng cũng phải được coi là đầu tư cho hạ tầng văn hóa. Một con người có năng lực và tâm huyết có thể làm cho một thiết chế bình thường trở nên sống động; ngược lại, công trình hiện đại nhưng thiếu người vận hành tốt rất dễ trở thành lãng phí.

Chuyển đổi số là một hướng đột phá khác. Phú Thọ đã đặt ra nhiều mục tiêu về số hóa di sản, bảo vật, di tích, bảo tàng và thư viện. Tuy nhiên, cần chuyển từ tư duy số hóa tư liệu sang phát triển tài nguyên văn hóa số. Tỉnh có thể nghiên cứu xây dựng bản đồ số văn hóa, kết nối di sản, nghệ nhân, lễ hội, bảo tàng, thư viện, điểm đến, ẩm thực, sản phẩm thủ công và các cộng đồng sáng tạo. Khi ấy, dữ liệu văn hóa không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn trở thành nguyên liệu cho giáo dục, du lịch, truyền thông và công nghiệp văn hóa, đồng thời tạo một cách tiếp cận hấp dẫn hơn với người trẻ.

Phát triển công nghiệp văn hóa cũng cần có trọng tâm. Tỉnh đặt mục tiêu doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa tăng 11-12% mỗi năm, nhưng quan trọng hơn là phải trả lời được Phú Thọ sẽ cạnh tranh bằng ngành nào, sản phẩm nào và thương hiệu nào. Với lợi thế hiện có, Phú Thọ có thể ưu tiên du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn gắn với di sản, thủ công mỹ nghệ và thiết kế, ẩm thực, sự kiện văn hóa - thể thao và nội dung số được sáng tạo từ kho tàng văn hóa Đất Tổ. Mỗi lĩnh vực nên có một số sản phẩm dẫn dắt, doanh nghiệp dẫn dắt và không gian sáng tạo dẫn dắt. Đến một thời điểm nào đó, khi nói đến công nghiệp văn hóa Phú Thọ, chúng ta có thể gọi tên được những sản phẩm, thương hiệu, doanh nghiệp và cộng đồng đang thực sự tạo ra giá trị kinh tế từ văn hóa.

Cuối cùng, mọi nỗ lực phát triển văn hóa phải quay trở lại với con người. Tôi rất đồng tình với việc Phú Thọ nhấn mạnh các chỉ số phát triển con người và hạnh phúc, bởi đích đến của chính sách văn hóa không phải là số lượng công trình, lễ hội hay danh hiệu, mà là chất lượng con người và chất lượng sống. Một nền văn hóa phát triển phải giúp con người nhân ái hơn, trách nhiệm hơn, sáng tạo hơn; cộng đồng gắn kết hơn; trẻ em có môi trường trưởng thành tốt hơn; người cao tuổi có đời sống tinh thần phong phú hơn; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng và các nhóm dân cư ngày càng được thu hẹp.

Vì vậy, bên cạnh các chỉ tiêu truyền thống như tỷ lệ gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa hay số lượng thiết chế, tỉnh có thể từng bước quan tâm thêm các chỉ số về mức độ tham gia của người dân vào đời sống văn hóa, khả năng tiếp cận văn hóa, mức độ hài lòng, thói quen đọc sách, năng lực sáng tạo và sự lành mạnh của môi trường văn hóa số. Đó chính là quá trình chuyển từ quản lý hoạt động văn hóa sang quản trị sự phát triển văn hóa.

Cuộc khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tại Phú Thọ vì thế không chỉ là dịp nhìn lại việc thực hiện chính sách, pháp luật mà còn là cơ hội để từ thực tiễn Đất Tổ nhận diện rõ hơn cách những chủ trương, chính sách mới có thể đi vào đời sống.

Phú Thọ đang có một cơ hội đặc biệt với chiều sâu của vùng đất cội nguồn, sự phong phú của tài nguyên văn hóa, những cơ chế mới và một quyết tâm mới dành cho văn hóa. Nếu thực hiện được những chuyển đổi từ bảo tồn di sản sang phát huy nguồn lực di sản; từ xây dựng thiết chế sang kiến tạo đời sống văn hóa; từ số hóa tư liệu sang phát triển tài nguyên văn hóa số; từ tổ chức hoạt động sang phát triển công nghiệp văn hóa; và từ coi người dân là đối tượng thụ hưởng sang chủ thể sáng tạo, tôi tin rằng mục tiêu xây dựng Phú Thọ trở thành trung tâm văn hóa về cội nguồn của dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Khi đó, văn hóa sẽ không chỉ làm nên bản sắc mà thực sự trở thành nguồn lực quan trọng kiến tạo tương lai Đất Tổ.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/tu-dat-to-de-van-hoa-thuc-su-tro-thanh-nguon-luc-phat-trien-259760.htm