Văn tế miền tâm tưởng
VHXQ - Trong không khí trang nghiêm của lễ hội đình, miếu, đến nhà thờ tộc họ… những bài văn tế góp phần lưu giữ, trao truyền ký ức về tiền nhân, đạo hiếu và khát vọng bình an của cộng đồng. Đằng sau những câu chữ Hán - Nôm trang trọng là một thế giới tâm linh dung hợp, nơi người Quảng gửi gắm lòng tri ân và ý thức sâu xa về nguồn cội.

Văn tế chữ Hán Nôm được đặt trang trọng trên bàn thờ trước giờ hành lễ. Ảnh: Hoài An
Tấm lòng tri ân và đạo lý cội nguồn
Văn tế thường sử dụng trong không gian lễ hội của đình, miếu, nhà thờ tộc hay các nghi lễ cúng tế nhằm bày tỏ lòng kính trọng, thương tiếc đối với người đã mất, hoặc ca ngợi công đức, cuộc đời của các vị thần linh, anh hùng dân tộc. Qua những bài văn tế, lịch sử lập làng hay hành trình cội nguồn của một dòng họ… hiện lên qua lời xưng tụng, tên tuổi của những người đã góp công khai phá, dựng làng, lập nghiệp: “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cư…” đều được nhắc nhớ.
Một bài văn tế thường có kết cấu 3 phần chính và được mở đầu bằng chữ “Duy”: nêu thời gian, địa điểm, chánh tế, bồi tế (còn gọi chủ tế và tả hữu phân hiến) và tên những lễ vật dâng cúng. Phần thứ 2 bắt đầu bằng từ “Cảm cáo vu” (hoặc cảm chiêu cáo vu), phần này thỉnh mời đối tượng được tế (tức là chư thần hoặc chư âm linh, hoặc chư tiên tổ...). Phần thứ 3 bắt đầu bằng từ “Viết cung duy” là lời cầu mong, cầu khấn. Bao giờ cũng kết thúc bằng cụm từ: “Phục duy cẩn cáo” hay “ngưỡng lại tôn thần” (hoặc âm linh, anh linh, chư tiên linh... tùy theo đối tượng được thỉnh mời).
Cách cấu trúc ấy tưởng như khuôn phép nhưng lại chứa đựng một quan niệm rất sâu về đạo lý tri ân, con người phải có trước sau, nguồn cội. Đó là cách người sau gọi tên công lao của người trước, nhắc con cháu nhớ rằng mỗi làng quê, mỗi dòng họ đều có một lịch sử được tạo dựng bằng mồ hôi, công sức và cả những hy sinh. Nhớ tổ tiên cũng là nhớ những người đã mở đất, dựng làng, truyền nghề; biết ơn tiền nhân cũng là ý thức giữ gìn những giá trị tốt đẹp được trao truyền.
Một thế giới tâm linh giàu tính dung hợp
Đọc các văn bản văn tế, văn cúng ở xứ Quảng có thể nhận ra một thế giới tâm linh nhiều tầng, phản ánh rõ lịch sử giao lưu, tiếp biến văn hóa của vùng đất này.
Một lễ tế nhưng có sự hiện diện của nhiều lớp thần linh: Đức Ngư ông (Cá Ông), Thiên Y A Na Diễn Ngọc phi, Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương, Tứ Dương linh diệu, Thủy Long Thánh phi, Thành hoàng bổn xứ, Quan Thánh, thổ địa, ngũ hành… Mỗi vị thần đều có sự linh ứng, phù trợ cho đời sống người dân được bình an, hạnh phúc. Sự đan xen ấy cho thấy khả năng dung hợp văn hóa khá đặc biệt của cư dân xứ Quảng.
Có thể thấy, trong cùng một không gian tín ngưỡng, cùng một bài văn tế, nhiều yếu tố bản địa, Chăm, Nho, Phật, Lão… cùng tồn tại, được cộng đồng tiếp nhận và bản địa hóa. Vì thế, văn tế không chỉ phản ánh niềm tin vào thế giới thần linh mà còn phản ánh lịch sử văn hóa của vùng đất - nơi nhiều tộc người, nhiều truyền thống văn hóa gặp gỡ, giao lưu và cùng tạo nên một diện mạo riêng.
Đặc biệt, ở xứ Quảng còn có những bài Văn tế tử sĩ, Văn tế âm hồn Vũng Nồm, Văn tế âm linh... Ở đó, lòng thương người vượt ra ngoài phạm vi dòng họ hay làng xã. Người đã khuất, dù là anh hùng hy sinh cho quê hương, hay người đi biển gặp nạn… đều được cộng đồng kính ngưỡng. “Một chén rượu nồng trên đất Việt/Đôi ngọn đèn sáng giữa bãi Nồm… Hộ ngư phủ bình an lợi lạc”. Sự thương cảm sinh - tử ấy minh chứng cho tấm lòng bao dung, vị tha sâu thẳm của cư dân nơi đây. Đó cũng là cách cộng đồng tìm kiếm sự bình an cho người sống bằng lòng thương đối với người đã mất.

Những trang văn tế chữ Hán Nôm vang lên trong nghi lễ Kỳ yên. Ảnh: Hoài An
Giữ văn tế, giữ không gian ký ức
Một điều đáng lo là không ít văn bản Hán - Nôm quý đang có nguy cơ mai một theo thời gian, khi những người có thể đọc, hiểu và lưu giữ chúng ngày càng ít đi.
Theo nhận định của Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng thì thời gian, chiến tranh, thiên tai và sự thay đổi của đời sống đã khiến không ít tư liệu bị hư hỏng, thất lạc, trong đó có văn tế. Trong khi đó, những người cao tuổi còn đọc được chữ Hán, hiểu điển tích và nắm được cách xướng văn tế ngày càng ít.
Bởi vậy, việc sưu tầm văn tế, văn cúng cần được tiến hành một cách có hệ thống. Trước hết là khảo sát, thống kê, chụp ảnh và số hóa các văn bản đang được lưu giữ tại đình, chùa, nhà thờ tộc, lăng miếu, vạn chài, nhà dân. Sau đó, cần phiên âm, dịch nghĩa và chú giải để những văn bản vốn được viết bằng Hán - Nôm có thể được tiếp cận rộng rãi hơn.
Có thể xây dựng một kho dữ liệu số về văn tế xứ Quảng để lưu giữ các văn bản và các video ghi lại bối cảnh thực hành nghi lễ.
Việc lưu giữ hình ảnh không gian hành lễ, trình tự nghi thức, cách đánh chiêng trống, cách dâng lễ, giọng xướng đọc và những quy ước riêng của từng làng, từng dòng họ cũng rất quan trọng.
Văn tế chỉ thực sự sống khi nó còn được đọc, được nghe và được cộng đồng thực hành. Đây sẽ là nguồn tư liệu có giá trị không chỉ đối với nghiên cứu văn hóa mà còn đối với giáo dục truyền thống và việc trao truyền di sản cho thế hệ trẻ.
Không chỉ là những trang giấy viết chữ Nho nhuốm màu thời gian, văn tế còn là tiếng nói của hậu thế gửi đến các bậc tiền nhân, cũng là cách một cộng đồng tự nhắc mình về nguồn cội. Vì thế, gìn giữ văn tế không chỉ là bảo tồn một loại hình văn bản Hán - Nôm, mà còn là gìn giữ một mạch nguồn đạo lý, một thế giới tâm linh và một phần ký ức văn hóa của xứ Quảng.

