Mộ cổ lưu dấu khai canh
VHXQ - Trong tiến trình lịch sử - văn hóa xứ Quảng, mộ cổ là loại hình di sản đặc biệt. Ngoài giá trị về kiến trúc với nhiều kiểu dáng độc đáo nhằm lưu giữ “thể phách” được trường tồn, mộ cổ còn là minh chứng sinh động cho quá trình mở đất lập làng, xây dựng quê hương của bao lớp cư dân, lưu dấu ký ức lịch sử, phản ánh phong tục, tín ngưỡng và nét đẹp văn hóa qua nhiều thời kỳ.

Mộ chum trong văn hóa Sa Huỳnh được trưng bày tại Bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: Minh Khuê
Một loại hình di sản kiến trúc độc đáo
Trên thế giới có nhiều kiểu táng thức như thiên táng, địa táng, thủy táng, hỏa táng…, tùy thuộc thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi cộng đồng, tộc người. Hơn 2.000 năm trước, cư dân Sa Huỳnh đã lưu dấu trên vùng đất xứ Quảng những khu mộ với quan tài chum đặc trưng cùng nhiều đồ dùng sinh hoạt, công cụ, vũ khí, trang sức tùy táng bằng nhiều chất liệu.
Với người Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và quan niệm “sinh ký, tử quy” khiến “âm phần” luôn được đặc biệt coi trọng, gắn với ước vọng trường tồn, hưng thịnh của gia đình, dòng tộc. Đây cũng là nét đẹp văn hóa được bao lớp lưu dân Việt từ thế kỷ 14, 15 mang theo và lưu dấu trên vùng đất xứ Quảng.
Dù trải qua nhiều biến thiên lịch sử và thiên nhiên khắc nghiệt, xứ Quảng vẫn lưu giữ phong phú các mộ táng cổ từ nhiều thế kỷ trước, quy mô có thể lên đến vài trăm mét vuông, đa dạng về phong cách và kiểu dáng.
Mộ được xây bằng gạch, đá ong, sa thạch, phiến thạch, cẩm thạch, hợp chất vôi ghè (tam hợp), với nhiều dạng nấm mộ như tròn, tròn xoáy trôn ốc, hột xoài, chữ nhật, mai rùa, yên ngựa, lá sen úp...
Thành quynh thường bao dày một đến hai lớp, hình chữ nhật hoặc kiểu tay ngai. Nhiều mộ có bình phong, trụ biểu, nhà bia, bia mộ, trang trí hồi văn, hoa lá, tứ nghệ, tứ thời, mai hạc, tùng điểu, câu đối... Những công trình này thể hiện tư duy sáng tạo, tài hoa của tiền nhân, góp phần làm giàu di sản kiến trúc cổ xứ Quảng.

Mộ danh thần Võ Đăng Xuân ở làng Phô Thị với kiến trúc mộ truyền thống. Ảnh: Minh Khuê
Bia mộ kể chuyện tiền nhân
Bên cạnh giá trị kiến trúc, lưu dấu đặc điểm và vẻ đẹp riêng của mộ cổ xứ Quảng qua các thời Lê sơ, chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn, minh văn trên bia mộ cùng đại tự, câu đối còn là nguồn tư liệu quý về gốc tích, thân thế, sự nghiệp của những người đã khuất trong buổi đầu mở đất, khai cơ lập nghiệp.
Dù chỉ đôi câu ngắn gọn, minh văn bia mộ mở ra những câu chuyện dài về công lao của tiền nhân, góp phần lý giải ý nghĩa thiêng liêng và niềm tự hào trong tiếng gọi Tiền hiền, Hậu hiền. Từ những tấm bia giản đơn đến các tác phẩm chạm khắc tinh tế, bia mộ còn ghi lại quê quán, dòng tộc, chức vụ, thân nhân, quốc hiệu và niên đại qua các thể chữ Hán - Nôm, lưu dấu ký ức lịch sử qua thời gian, như “thi gan cùng tuế nguyệt”.
Làng Đà Sơn gần 700 năm tuổi dưới chân đèo Hải Vân có mộ tổ tộc Phan lưu dấu tên tuổi ông Phan Công Thiên - tiền hiền làng. Gần đó là mộ phu nhân ông - công chúa Trần Ngọc Lãng. Ông Phan Công Thiên quê tại Thanh Lam Động, Thanh Hóa, là một danh tướng nhà Trần được cử trấn thủ vùng đất Hóa Châu từ năm 1346 - 1400. Với những chiến công hiển hách và chính sách cai trị mềm dẻo, khôn khéo, ông được vua Trần Dụ Tông ban tước Thuận Quốc công, tước hiệu cao quý nhất của triều Trần.
Gắn với công khai mở đất đai, phát triển châu Ngũ Hành Sơn là hoàng tôn Lê Tấn Triều, tiền hiền tộc Lê nơi đây, mộ phần nằm tại làng Khái Đông. Triệu Quận công Lê Tấn Triều quê xã Lỗ Hiền, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, Thanh Hóa, ông cùng bào huynh Lê Tấn Trung là những danh tướng phò tá vua Lê Thánh Tông Nam chinh.
Tại vùng đất Hội An, cũng có một vị hoàng tôn thời Lê Trung Hưng gắn với công tích lập làng Thanh Châu là ông Lê Duy Trì, con vua Lê Thế Tông, mộ phần hiện ở giữa đồng lúa Thanh Đông.
Bia mộ thủy tổ tộc Trần gần lăng Bà thuộc tổ dân phố Võng Nhi khắc lại kế biên năm Cảnh Thống Mậu Ngọ - 1498 cho biết, thời vua Lê Thánh Tông, ông Trần Văn Lý, quê xã Khuôn Phô, huyện Gia Phước, phủ Hạ Hồng, thừa tuyên Hải Dương, theo đoàn quân nam chinh, sau đó ở lại Quảng Nam khai phá đất bồi trưng tập dân cư lập làng Võng Nhi chuyên nghề chài lưới.
Bia mộ tổ tộc Lê ở Xuân Lâm, làng Cẩm Phô lập năm Duy Tân Quý Sửu - 1913 kể rằng thời Gia Dũ Hoàng đế khai mở đất Thuận Quảng, tổ tộc Lê cùng tộc Trần, Huỳnh, Nguyễn ở Bắc vào đã lập nên làng Cẩm Phô - một trong những làng xã được hình thành sớm nhất trên vùng đất Hội An, được nhắc đến trong sách Ô châu cận lục vào năm 1553.
Bia mộ thủy tổ tộc Nguyễn Viết - tiền hiền làng Để Võng chép, vào thời Lê, ngài Thủy tổ quê ở Nghệ An, theo quân vào nam, cải tạo thủy điền trên những nhánh sông ở Quảng Nam, tập hợp cư dân chuyên nghề sông nước lập nên xã hiệu Để Võng. Đến thời Thịnh Đức (vào nửa đầu thế kỷ 17) thì lập địa bộ lưu truyền về sau...
Ngày nay, do thiếu vắng thân nhân chăm nom và sức ép của quá trình đô thị hóa, không ít mộ cổ có giá trị ở xứ Quảng đã mất đi hoặc đứng trước nguy cơ bị hủy hoại. Việc chăm sóc, sửa chữa không đúng cách, cùng sự hạn chế trong việc nhận diện và giải đọc các dòng chữ cổ, cũng khiến giá trị di sản ngày càng mai một.
Để ghi dấu và bảo tồn loại hình di sản này, trước hết cần thống kê, tư liệu hóa, định vị trên Google Maps, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch, lập hồ sơ khoa học, hồ sơ pháp lý, nhất là xác định ranh giới địa chính để đưa vào danh mục kiểm kê, xem xét xếp hạng. Đó cũng là cách giữ lại những dấu tích vật chất và ký ức về các thế hệ tiền nhân đã góp phần tạo dựng xứ Quảng hôm nay.
