Ước Lễ - nơi Tết không khép lại, nơi nghề giữ hồn quê
Có những ngôi làng sống bằng nghề. Có những ngôi làng sống bằng ký ức. Và có những ngôi làng giữ được cả hai điều ấy qua nhiều thế kỷ. Làng Ước Lễ – ngôi làng nhỏ bên dòng chảy phía nam Hà Nội – không chỉ nổi tiếng bởi nghề giò chả gần 500 năm tuổi, mà còn bởi một phong tục đặc biệt: 'Tết lại'.
Có những ngôi làng sống bằng nghề. Có những ngôi làng sống bằng ký ức. Và có những ngôi làng giữ được cả hai điều ấy qua nhiều thế kỷ. Làng Ước Lễ – ngôi làng nhỏ bên dòng chảy phía nam Hà Nội – không chỉ nổi tiếng bởi nghề giò chả gần 500 năm tuổi, mà còn bởi một phong tục đặc biệt: “Tết lại”. Khi phố thị đã hết xuân, khi người người đã trở về với guồng quay mưu sinh, thì nơi đây, mùa xuân mới thực sự bắt đầu – bằng tiếng chày giã giò và những bước chân trở về nguồn cội.

Sáng sớm ở xã Dân Hòa, sương còn lảng bảng trên mái ngói thâm nâu. Con đường gạch dẫn vào làng Ước Lễ như chậm lại, để người ta có thể nghe rõ hơn một âm thanh đã tồn tại suốt mấy thế kỷ: Tiếng chày giã giò. Âm thanh ấy không ồn ã. Nó dày, chắc và đều nhịp. Như nhịp thở của làng.
Theo lời các bậc cao niên, nghề giò chả ở Ước Lễ có từ thời nhà Mạc. Tương truyền, một cung tần người làng được tiến cung, sau khi hồi hương đã cho xây cổng làng và truyền dạy bí quyết làm giò. Từ một món ăn nơi cung đình, giò chả trở thành nghề sinh nhai, rồi thành biểu tượng của cả cộng đồng. Không ai nhớ chính xác bao nhiêu đời đã đi qua, chỉ biết rằng từ cha sang con, từ bàn tay người này sang bàn tay người khác, nghề được gìn giữ như một lời thề thầm lặng.
Nghệ nhân Nguyễn Viết Minh, năm nay đã ngoài sáu mươi, vẫn đều đặn về làng vào những ngày có đoàn khách, học sinh tới trải nghiệm. Ông bảo, dạy người ta giã giò không chỉ là dạy kỹ thuật.
“Giã giò phải dồn hết tâm vào. Không được nóng vội. Thịt phải tươi, tay phải khỏe, mà lòng phải tĩnh. Làm giò mà cẩu thả thì không bao giờ thành", ông nói, ánh mắt ánh lên niềm tự hào.

Cổng làng Ước Lễ tái hiện không gian chợ cổ vào dịp Tết lại như một cách đánh thức ký ức xưa trong hình hài sống động.

Dưới mái lều tre, bên những chiếc mẹt đan, những mâm gỗ cũ kỹ, các gian hàng được sắp đặt theo đúng tinh thần của một phiên chợ làng truyền thống.

Dưới mái lều tre, bên những chiếc mẹt đan, những mâm gỗ cũ kỹ, các gian hàng được sắp đặt theo đúng tinh thần của một phiên chợ làng truyền thống.

Dưới mái lều tre, bên những chiếc mẹt đan, những mâm gỗ cũ kỹ, các gian hàng được sắp đặt theo đúng tinh thần của một phiên chợ làng truyền thống.
Giò Ước Lễ nổi tiếng bởi độ dẻo, mịn và hương thơm tự nhiên. Trước kia, làng chỉ có giò lụa và chả lụa. Nay theo nhu cầu thị trường, người dân làm thêm chả quế, giò bò, giò sụn, chả mỡ… Nhưng dù biến tấu ra sao, cốt cách của nghề vẫn nằm ở cách chọn thịt, cách giã và cách gói. Ngày trước, cả làng vang tiếng chày. Mỗi sáng tinh mơ, từng nhịp chày nối nhau, như một bản hợp xướng của lao động. Nay nhiều hộ đã chuyển đi nơi khác lập nghiệp, số gia đình duy trì sản xuất tại chỗ chỉ còn chưa đến chục nhà nhưng thương hiệu Ước Lễ thì vẫn theo chân người làng đi khắp mọi miền.
Năm 2023, giò chả Ước Lễ được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Đó không chỉ là sự ghi nhận pháp lý, mà là một mốc son tinh thần. Một làng nghề cổ truyền giữa thời hiện đại vẫn có chỗ đứng, vẫn giữ được tên tuổi bằng chính chất lượng và uy tín.
Không chỉ có nghề, Ước Lễ còn giữ được hồn xưa qua những công trình như đình Ước Lễ và chùa Sổ – ngôi chùa có tuổi đời gần 500 năm, khởi dựng từ thời nhà Mạc. Những viên gạch cổ, những nét chạm rồng phượng không chỉ là di tích, mà là ký ức hóa thạch của một thời. Ở đó, nghề và tâm linh hòa quyện. Làm giò không đơn thuần là sản xuất hàng hóa, mà là nối dài một mạch truyền thống. Và chính từ mạch nguồn ấy, một phong tục đặc biệt đã ra đời.



Làng Ước Lễ tái hiện không gian chợ cổ vào dịp Tết lại như một cách đánh thức ký ức xưa trong hình hài sống động.

Ở nhiều nơi, Tết kết thúc khi mâm cúng hóa vàng được hạ xuống và lịch khép lại ở ngày mùng 3 Tết. Nhưng ở Ước Lễ, Tết chưa vội kết thúc. Người Ước Lễ đi làm ăn xa rất nhiều. Từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh phía Nam, thậm chí ra nước ngoài, đâu đâu cũng có người làng mở cửa hàng giò chả. Tết Nguyên đán – thời điểm buôn bán nhộn nhịp nhất – lại là lúc họ bận rộn nhất. Có người đến chiều 30 mới khép cửa hàng. Có người ở xa không thể thu xếp về quê đúng dịp giao thừa...
Vì thế, làng có một tục lệ không thành văn: “ăn Tết lại” vào ngày 14 và 15 tháng Giêng. Ông Nguyễn Viết Tân, Chủ tịch Hội đồng hương người làng tại Hà Nội, chia sẻ: “Ngày 14 chủ yếu là người làng về làm lễ. Ngày 15 mới thực sự là Tết lại. Khi ấy, mọi nhà đều tề tựu đông đủ. Ai cũng cố gắng thu xếp để về".
Theo nếp ấy, vào sáng 15 tháng Giêng, từ sớm, những ngả đường vào làng đã đông người. Tiếng chào hỏi rộn ràng. Những cái bắt tay, những cái ôm, những giọt nước mắt vui sum họp lặng lẽ rơi... Trong mỗi gia đình, mâm cỗ được chuẩn bị chu đáo. Giò lụa đặt ở vị trí trang trọng nhất. Không phải để khoe, mà để tri ân nghề tổ, tri ân tổ tiên.
Bà Nguyễn Thị Thu Hương – người đã 34 lần ăn Tết lại kể từ ngày làm dâu Ước Lễ – xúc động: "Có năm, nhà tôi làm tới bốn chục mâm đãi khách. Đông vui lắm. Ngày ấy, ai đến càng đông càng quý. Nhà nào đông khách cũng thấy tự hào".
Ở Ước Lễ, đông khách không phải để phô trương, mà là minh chứng cho sự gắn kết. Người ta mời nhau bằng tấm lòng. Bạn bè, thông gia, đồng nghiệp… cùng về chung vui. Không khí ngày ấy khác hẳn Tết Nguyên đán. Không còn lo toan mua sắm, không còn tất bật dọn dẹp. Chỉ còn sự thong thả của những cuộc trò chuyện dài. Nhiều gia đình sau bữa cơm lại cùng nhau lên chùa Sổ lễ Phật, cầu an. Có người kết hợp tảo mộ tổ tiên, bởi Tết chính chưa kịp về.
Một cụ cao niên trong làng nói: "Tết lại mới là Tết đủ đầy. Vì đủ con cháu". Tục lệ này, xét về bản chất, là một sáng tạo văn hóa đầy nhân văn. Nó giải quyết một mâu thuẫn của đời sống hiện đại: Mưu sinh và đoàn tụ. Khi nhịp sống buộc con người phải xa quê đúng dịp thiêng liêng nhất, thì cộng đồng tự tạo ra một khoảng thời gian khác – để không ai bị bỏ lại. Đó là sự bao dung của làng đối với những người bôn ba. Đó cũng là cách người Ước Lễ giữ mình không bị tan rã.

Mỗi gian hàng tại chợ Tết không đơn thuần là nơi trưng bày sản phẩm, mà là một “không gian ký ức”, nơi người già kể cho con cháu nghe về những ngày xưa, khi cả làng cùng thức từ tinh mơ, cùng tiếng chày giã giò hòa vào tiếng gọi nhau í ới trong buổi chợ quê...
Năm nay, làng còn tái hiện không gian chợ cổ vào dịp Tết lại như một cách đánh thức ký ức xưa trong hình hài sống động. Dưới mái lều tre, bên những chiếc mẹt đan, những mâm gỗ cũ kỹ, các gian hàng được sắp đặt theo đúng tinh thần của một phiên chợ làng truyền thống. Không chỉ có giò lụa, chả quế, giò bò – những sản vật làm nên danh tiếng của làng – mà còn xuất hiện nhiều món ăn dân dã từng gắn bó với đời sống người dân như bánh chưng, bánh tẻ, chè lam, kẹo lạc… Mỗi gian hàng không đơn thuần là nơi trưng bày sản phẩm, mà là một “không gian ký ức”, nơi người già kể cho con cháu nghe về những ngày xưa, khi cả làng cùng thức từ tinh mơ, khi tiếng chày giã giò hòa vào tiếng gọi nhau í ới trong buổi chợ quê.
Những đứa trẻ, nhiều em sinh ra và lớn lên giữa phố thị, lần đầu tiên được cầm chiếc chày gỗ, được nghe kể về nghề tổ, được tận mắt chứng kiến từng công đoạn làm giò thủ công. Với người lớn, đó là sự hoài niệm; với lớp trẻ, đó là sự khởi đầu của nhận thức về cội nguồn. Việc tái hiện chợ cổ vì thế không chỉ mang ý nghĩa phục dựng một hình thức sinh hoạt văn hóa, mà còn là cách làng chủ động trao truyền nghề, trao truyền ký ức và bản sắc. Đồng thời, đó cũng là một cách quảng bá tự nhiên và sâu sắc nhất hình ảnh làng nghề Ước Lễ tới du khách gần xa – không qua lời giới thiệu cầu kỳ, mà bằng chính không khí sống động, chân thực và giàu cảm xúc. Một du khách từng xúc động chia sẻ rằng, điều khiến bà nhớ nhất không chỉ là hương vị giò chả, mà là cách người dân nơi đây trân trọng truyền thống như trân trọng một phần máu thịt của mình.
Ở Ước Lễ, Tết lại không phải là sự lặp lại của một cái Tết đã qua, mà là sự tiếp nối của những giá trị chưa bao giờ cũ. Đó là khoảng thời gian mà mọi khoảng cách địa lý được thu hẹp lại, khi những người con dù đi xa đến đâu vẫn tìm về dưới mái nhà xưa, ngồi bên mâm cơm có hương vị quen thuộc của làng. Tết lại làm cho sự đoàn tụ trở nên đủ đầy hơn, làm cho mùa xuân trở nên trọn vẹn hơn, bởi nó không bị bó buộc trong một thời điểm cố định, mà mở ra để đón những người trở về muộn. Trong dòng chảy của đô thị hóa và toàn cầu hóa, khi nhiều làng nghề dần phai dấu, nhiều phong tục chỉ còn trong ký ức, thì Ước Lễ vẫn giữ được một giá trị cốt lõi: Giữ nghề để giữ danh, giữ Tết lại để giữ tình, giữ phong tục để giữ lấy sợi dây gắn kết cộng đồng.
Tết lại vì thế không chỉ là một phong tục, mà là một biểu tượng văn hóa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nó nhắc nhở mỗi người về cội nguồn, về sự gắn bó máu thịt với quê hương, về trách nhiệm gìn giữ những gì cha ông để lại. Không phải nơi nào cũng có một cái Tết thứ hai để chờ đợi những người chưa kịp về. Không phải nơi nào cũng có một cộng đồng kiên trì giữ gìn phong tục chỉ để mọi người được đoàn tụ trọn vẹn. Và cũng không phải nơi nào, mùa xuân có thể ở lại lâu đến thế – trong tiếng chày giã giò, trong những phiên chợ cổ được tái hiện, và trong lòng những người con Ước Lễ, những người luôn biết rằng, dù đi xa đến đâu, vẫn có một cái Tết chờ họ trở về...

Bài viết: Minh Huyền
Ảnh: Minh Huyền và CTV
Thiết kế: Hữu Tiệp


































