Từ ngày độc lập đến nền kinh tế số

81 năm sau ngày Quốc khánh, Việt Nam đang bước vào một chặng đường phát triển mà những động lực truyền thống không còn đủ để tạo ra dư địa tăng trưởng mới. Bên cạnh đường sá, nhà máy, cảng biển, đất nước cần những “công trình” của thời đại số - dữ liệu, AI, hạ tầng tính toán, nhân lực công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo - để biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành giá trị và đổi mới thành sức cạnh tranh.

Khi dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất

Nhìn lại 81 năm kể từ Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều gắn với khả năng nắm bắt thời cơ và huy động những nguồn lực mới. Nếu các thế hệ đi trước đặt nền móng bằng đường sá, nhà máy, điện, nước và các công trình hạ tầng, thì hôm nay, một phần quan trọng của công cuộc dựng xây đang diễn ra trên không gian số.

Ở đó, những “con đường” mới là hạ tầng kết nối; “nhà máy” có thể là trung tâm dữ liệu; còn “nguyên liệu” không chỉ là tài nguyên vật chất mà còn là dữ liệu. AI, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành công cụ tạo ra năng suất mới.

Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Katolec Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Minh). Ảnh: Đỗ Tâm

Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Katolec Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Minh). Ảnh: Đỗ Tâm

Quy mô kinh tế số ngày càng rõ nét. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company ước tính kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 39 tỷ USD, riêng thương mại điện tử đạt khoảng 13,8 tỷ USD.

Kinh tế số vì thế không còn là câu chuyện của một vài doanh nghiệp công nghệ. Nó đã đi vào mua sắm, thanh toán, sản xuất, logistics, quản trị doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ công.

Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP và đến năm 2045 đạt tối thiểu 50% GDP.

Từ 14,02% lên 30% là một khoảng cách rất lớn. Khoảng cách ấy không thể được lấp đầy chỉ bằng việc mua thêm phần mềm, đưa dịch vụ lên trực tuyến hay trang bị máy móc. Thước đo cuối cùng phải là công nghệ tạo ra bao nhiêu giá trị, nâng năng suất bao nhiêu và giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn như thế nào.

Đây cũng là lúc khái niệm về tài sản và năng lực sản xuất thay đổi. Bên cạnh nhà xưởng, máy móc, doanh nghiệp ngày càng sở hữu những tài sản vô hình như dữ liệu, mã nguồn, thuật toán, nền tảng và mạng lưới khách hàng.

Một doanh nghiệp nhỏ, nếu biết khai thác AI, có thể tự động hóa công việc, phân tích nhu cầu khách hàng, tối ưu vận hành và tiếp cận thị trường vượt khỏi giới hạn địa lý. Công nghệ đang làm thay đổi tương quan về quy mô: không nhất thiết phải thật lớn mới có thể tạo ra giá trị lớn.

GS.TS Trần Thọ Đạt nhận định, AI có khả năng đóng góp từ 1,92 đến 4 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm vào năm 2045 thông qua năng suất tổng nhân tố và năng suất lao động. Theo kịch bản đột phá, GDP bổ sung tích lũy đến năm 2045 có thể đạt khoảng 16.300 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 640 tỷ USD.

Nhưng cơ hội lớn cũng cho thấy những điểm nghẽn không nhỏ. Dữ liệu ngày càng nhiều nhưng khả năng khai thác còn hạn chế; doanh nghiệp đầu tư công nghệ nhưng năng suất chưa chắc tăng tương ứng; công nghệ thay đổi nhanh trong khi tổ chức và con người chưa phải lúc nào cũng thay đổi kịp.

Ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cho rằng: Điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiết bị hay phần mềm mà ở khả năng biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất, công nghệ thành năng suất, sáng kiến thành thị trường và quyết tâm thành kết quả đo đếm được.

Nói cách khác, khoảng cách đáng quan tâm nhất là khoảng cách giữa “có công nghệ” và “tạo ra giá trị từ công nghệ”.

Không chỉ số hóa, phải tạo ra năng suất mới

Muốn kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam cần chuyển từ số hóa từng phần sang xây dựng một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Đây không chỉ là việc của doanh nghiệp mà còn đòi hỏi thay đổi trong thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và thị trường.

Khu công nghệ cao Hòa Lạc được kỳ vọng phát triển mạnh trong tương lai, góp phần thúc đẩy nền kinh tế số của Thủ đô. Ảnh: Hùng Huy

Khu công nghệ cao Hòa Lạc được kỳ vọng phát triển mạnh trong tương lai, góp phần thúc đẩy nền kinh tế số của Thủ đô. Ảnh: Hùng Huy

Trước hết, thể chế phải theo kịp tốc độ đổi mới. Công nghệ thường đi nhanh hơn pháp luật. Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng: Tư duy làm luật cần thay đổi, thay vì quá tập trung vào công nghệ đó là gì, cần quan tâm nó tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế.

Điều đó đòi hỏi chuyển từ tư duy “không quản được thì cấm” sang “quản được để phát triển”, đồng thời mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát với những mô hình kinh doanh, công nghệ mới.

Cùng với thể chế, dữ liệu phải được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển. TS Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Chính sách và Phát triển truyền thông cho rằng: Việt Nam có dữ liệu nhưng chưa hình thành được một thị trường dữ liệu đúng nghĩa.

Muốn dữ liệu tạo ra giá trị, cần chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu minh bạch, an toàn; hình thành các chủ thể cung cấp, sử dụng và tạo giá trị từ dữ liệu. Khi được kết nối đúng cách, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn trở thành đầu vào cho nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh.

Một điểm nghẽn khác là chi phí chuyển đổi số. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tự đầu tư toàn bộ năng lực về dữ liệu, AI hay an toàn thông tin là rất khó. Vì vậy, hạ tầng và nền tảng dùng chung có ý nghĩa quan trọng, vừa giảm chi phí, vừa mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ và thu hẹp khoảng cách số.

GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam chỉ ra những “độ vênh” giữa chi phí doanh nghiệp bỏ ra và năng suất thu về; giữa mức độ trang bị công nghệ và năng lực hấp thụ; giữa nhu cầu kết nối và sự thiếu đồng bộ của hệ thống.

Bởi vậy, bài toán không còn là Việt Nam có bao nhiêu công nghệ, mà là công nghệ có được kết nối thành một hệ sinh thái tạo giá trị hay không.

Đổi mới sáng tạo cũng cần thị trường để trưởng thành. Một công nghệ dù tốt đến đâu cũng khó đi xa nếu không có khách hàng. Nhà nước, với vai trò kiến tạo phát triển, có thể trở thành người đặt hàng, tạo thị trường ban đầu để công nghệ Việt Nam được thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa.

Hướng tới giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế số trong GDP lên khoảng 30%, hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số tầm cỡ quốc tế và đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu.

Để những mục tiêu ấy trở thành hiện thực, doanh nghiệp phải ở vị trí trung tâm. Từ nông nghiệp, công nghiệp, tài chính, du lịch đến logistics, doanh nghiệp cần công nghệ với chi phí hợp lý, vốn để đầu tư, nhân lực để vận hành, dữ liệu để khai thác và môi trường pháp lý đủ linh hoạt để thử nghiệm.

Sức mạnh của kinh tế số không nằm ở một vài “người khổng lồ” công nghệ, mà ở khả năng đưa công nghệ vào hàng triệu hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Khi mỗi doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí, nâng thêm một phần năng suất, mở thêm một phần thị trường nhờ công nghệ, những thay đổi nhỏ sẽ cộng hưởng thành động lực lớn. Từ những con đường, nhà máy của thế kỷ trước đến dữ liệu, AI và các nền tảng số hôm nay, “xây dựng đất nước” đang có thêm một không gian mới, nơi năng suất và sức cạnh tranh sẽ quyết định chất lượng của một chu kỳ tăng trưởng mới.

Phương Nga

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tu-ngay-doc-lap-den-nen-kinh-te-so-1705629.html