Tìm 'chủ' cho hơn 3 triệu héc ta rừng
Hơn 3 triệu héc ta rừng, đất lâm nghiệp hiện do UBND xã quản lý, trong khi nhiều diện tích chưa rõ ranh giới, hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện, nguồn lực bảo vệ còn hạn chế. Đẩy nhanh giao đất, giao rừng, xác lập chủ thể quản lý được xem là giải pháp căn bản để bảo vệ và phát huy giá trị nguồn tài nguyên này.
Áp lực quản lý hơn 3 triệu héc ta rừng ở cấp xã
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến 31/12/2025, tổng diện tích rừng cả nước đạt 14,97 triệu héc ta, trong đó rừng tự nhiên 10,07 triệu héc ta, rừng trồng 4,89 triệu héc ta, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%. Đáng chú ý, diện tích rừng do UBND xã quản lý hơn 3,07 triệu héc ta, chiếm khoảng 20,51% tổng diện tích rừng toàn quốc. Đây là quỹ tài nguyên rừng rất lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị ở cấp xã.
Diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý tăng trong giai đoạn 2019 - 2022 và giảm dần từ năm 2023 đến nay cho thấy quá trình giao, cho thuê rừng, đất lâm nghiệp đang từng bước được thực hiện. Tuy nhiên, diện tích còn lại vẫn rất lớn và phần lớn có nguồn gốc phức tạp, tranh chấp, chồng lấn quyền sử dụng đất hoặc chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Việc duy trì quản lý tại cấp xã trong giai đoạn chưa thể giao, cho thuê là cần thiết để tránh xung đột, nhưng đây không phải giải pháp lâu dài.

Việc giao rừng phải gắn với quyền, nghĩa vụ và lợi ích của chủ rừng. Ảnh: Đan Thanh
Kết quả tổng hợp từ 13 tỉnh cho thấy chất lượng rừng do UBND xã quản lý nhìn chung còn thấp, rừng nghèo và rừng phục hồi chiếm tỷ trọng lớn. Chất lượng rừng thấp khiến diện tích này kém hấp dẫn với các chủ thể nhận giao, trong khi thiếu chủ thể quản lý hiệu quả cũng khiến việc cải thiện chất lượng rừng gặp khó khăn.
Một bất cập hiện nay là UBND xã vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa trực tiếp quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê, nhưng không phải là chủ rừng, chủ sử dụng đất theo quy định. Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy định trách nhiệm của UBND xã đối với diện tích này, song quyền, nghĩa vụ và cơ chế chính sách trong trường hợp phải quản lý diện tích lớn, kéo dài chưa được xác định đầy đủ.
Sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật đất đai và lâm nghiệp cũng gây khó khăn trong thực hiện. Một diện tích có thể đồng thời được xác định là đất lâm nghiệp theo pháp luật đất đai và là rừng tự nhiên, rừng sản xuất theo pháp luật lâm nghiệp, trong khi quy trình giao đất, giao rừng, thu hồi đất hay chuyển mục đích sử dụng lại liên quan đến các cơ quan và quy định khác nhau.
Ở nhiều nơi, ranh giới rừng, đất lâm nghiệp chưa rõ, hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ, chưa cắm mốc ngoài thực địa. Việc đo đạc, lập hồ sơ địa chính, xây dựng phương án giao đất, giao rừng thiếu kinh phí nên tiến độ chậm. Một số diện tích người dân đang sản xuất nông nghiệp nhưng về pháp lý là đất lâm nghiệp chưa được xử lý dứt điểm.
Trong khi đó, nguồn lực quản lý tại cấp xã còn hạn chế. Nhiều xã có rừng nhưng không có cán bộ chuyên trách về lâm nghiệp, nhiệm vụ bảo vệ rừng chủ yếu được giao kiêm nhiệm. Có xã, Phòng Kinh tế chỉ có 7 cán bộ đảm nhiệm tới 97 nhiệm vụ, trong khi một cán bộ phải phụ trách công tác bảo vệ, phát triển hàng nghìn héc ta rừng và đất lâm nghiệp.
Ngoài ra, nguồn lực tài chính cũng hạn chế. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tạo nguồn tài chính khoảng 3.500 - 4.000 tỷ đồng mỗi năm, nhưng diện tích do UBND xã quản lý thường khó tiếp cận nguồn lực này do chưa xác lập chủ rừng và hợp đồng bảo vệ rừng cụ thể.
Đẩy nhanh giao đất, giao rừng, xác lập chủ rừng
Từ thực tế trên, cần nghiên cứu sửa đổi Luật Lâm nghiệp và các quy định liên quan, bảo đảm thống nhất với pháp luật đất đai; xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của UBND xã đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê. Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phát triển diện tích này cũng cần được xác định là dịch vụ công ích, được nhà nước bố trí ngân sách thực hiện.
Giải pháp căn bản là đẩy nhanh giao đất, giao rừng, xác lập chủ rừng. Hơn 3,07 triệu héc ta rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý cần được rà soát về nguồn gốc, ranh giới, hiện trạng để xây dựng lộ trình giao cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân hoặc ban quản lý rừng phù hợp. Việc giao rừng cần gắn với quyền lợi và trách nhiệm của chủ rừng, qua đó tạo động lực bảo vệ, phát triển rừng và huy động nguồn lực đầu tư lâu dài.
Cùng với đó, cần tăng nguồn lực cho cấp xã, nhất là nơi có diện tích rừng lớn; bố trí cán bộ chuyên môn, tăng cường kiểm lâm địa bàn và trang thiết bị phục vụ tuần tra, giám sát, phòng cháy, chữa cháy rừng. Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng cũng cần được mở rộng phù hợp với từng địa bàn.
Bảo vệ rừng cần gắn với sinh kế người dân thông qua phát triển kinh tế rừng đa giá trị như lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, nông lâm kết hợp, rừng gỗ lớn, kinh doanh dưới tán rừng và du lịch sinh thái.
Một hướng quan trọng khác là phát huy giá trị tài chính của rừng, trong đó có chi trả dịch vụ môi trường rừng và thị trường carbon. Điều kiện quan trọng là diện tích rừng phải có hồ sơ pháp lý rõ ràng, phù hợp quy hoạch và đủ dữ liệu phục vụ đo đạc, thẩm định khả năng hấp thụ, giảm phát thải. Do đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu rừng thống nhất, số hóa bản đồ rừng, kết nối từ Trung ương đến địa phương, đồng thời ứng dụng viễn thám, dữ liệu vệ tinh và trí tuệ nhân tạo trong giám sát.
Khi xác lập rõ chủ thể quản lý cùng quyền lợi và trách nhiệm, hơn 3 triệu héc ta rừng này sẽ có điều kiện được quản lý hiệu quả và phát huy tốt hơn giá trị kinh tế, xã hội, môi trường.































