Thay đổi để phù hợp với thực tiễn
Sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới trường lớp là một trong những thay đổi lớn của ngành Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) trong năm học 2026-2027. Từ đồng bằng đến miền núi, nhiều trường học được hợp nhất, đầu mối được tinh gọn, đội ngũ và cơ sở vật chất được tổ chức lại. Nhưng phía sau những con số ấy là một yêu cầu lớn hơn: Làm thế nào để bộ máy mới vận hành hiệu quả, đồng thời không làm xáo trộn việc học tập và quyền lợi của học sinh.
Cách vận hành mới
Sau sắp xếp, một trong những thay đổi rõ nhất tại các cơ sở giáo dục là tổ chức bộ máy và đội ngũ. Những vị trí, nhiệm vụ trước đây được phân công trong mô hình cũ nay phải được bố trí lại để phù hợp với quy mô và yêu cầu vận hành của trường mới.
Tại Trường tiểu học và THCS Tân Hòa, xã Nam Hải Lăng, sự thay đổi ấy được thể hiện ngay trong đội ngũ cán bộ, giáo viên. Trước đây là Phó Hiệu trưởng phụ trách cấp THCS, sau sắp xếp, cô Nguyễn Thị Oanh trở lại vị trí giáo viên, trực tiếp giảng dạy môn Tin học.

Hội đồng sư phạm Trường tiểu học và THCS Tân Hòa, xã Nam Hải Lăng trao đổi công việc sau sắp xếp - Ảnh: N.B
Với cô Oanh, thay đổi vị trí công tác không phải là điều khiến cô băn khoăn. Cô cho rằng dù ở cương vị nào, điều quan trọng nhất vẫn là học sinh và chất lượng giáo dục. Từ vị trí mới, cô tiếp tục hỗ trợ cán bộ quản lý, đồng hành cùng đồng nghiệp và tập trung chuyên môn để góp phần nâng chất lượng giáo dục của nhà trường.
Từ câu chuyện của cô Oanh có thể thấy, sắp xếp trường lớp không chỉ là việc điều chỉnh tên gọi hay số lượng cơ sở giáo dục. Đó còn là quá trình tổ chức lại con người, phân công lại nhiệm vụ và hình thành cách vận hành mới, trong đó mỗi vị trí đều hướng đến mục tiêu chung là nâng cao chất lượng giáo dục.
Ở khu vực đồng bằng, những thay đổi này diễn ra trong điều kiện có phần thuận lợi hơn về giao thông, dân cư. Tuy nhiên, sau sắp xếp, yêu cầu đặt ra không chỉ là tổ chức bộ máy mà còn phải bảo đảm các điều kiện dạy và học tại những cơ sở mới.

Mạng lưới trường lớp được tổ chức lại theo thực tiễn từng địa bàn - Ảnh: N.B
Ông Nguyễn Tăng Ngô, phụ huynh học sinh ở thôn Câu Hà, xã Nam Hải Lăng cho biết, điều ông quan tâm sau sắp xếp là điều kiện học tập của các em, nhất là hệ thống máy tính, tivi phục vụ dạy học và bàn ghế. Địa bàn thấp trũng, thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lũ khiến cơ sở vật chất dễ xuống cấp, hư hỏng.
Vì vậy, điều phụ huynh mong muốn không chỉ là một ngôi trường được tổ chức lại, mà là sau sắp xếp, điều kiện học tập của con em mình được cải thiện.
“Cũng mong rằng sau sáp nhập các cháu chăm ngoan, học giỏi… đừng phụ lòng cha mẹ và thầy cô giáo”, mong muốn giản dị của ông Nguyễn Tăng Ngô cũng chính là kỳ vọng về chất lượng giáo dục sau khi trường lớp được tổ chức lại.
Mỗi địa bàn một cách sắp xếp riêng
Nếu ở đồng bằng, khoảng cách giữa các cơ sở giáo dục tương đối thuận lợi cho việc tính toán lại mạng lưới, thì ở miền núi, mỗi phương án sắp xếp lại phải đặt trong những điều kiện đặc thù về địa hình, giao thông, dân cư và đời sống người dân.
Trường tiểu học và THCS Đakrông là một trong những cơ sở giáo dục có quy mô lớn sau hợp nhất. Nhà trường hiện có 57 lớp, 1.283 học sinh cùng 109 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Quy mô tăng lên đặt ra yêu cầu mới trong quản lý, phân công đội ngũ, tổ chức lớp học và sử dụng các điểm trường.
Theo ông Nguyễn Bá Nam, Hiệu trưởng nhà trường, một trong những nhiệm vụ được ưu tiên là ổn định tư tưởng đội ngũ, rà soát số lượng lớp học, học sinh, giáo viên để bố trí phù hợp tại từng phân hiệu, điểm trường. Đối với địa bàn vùng cao, vận động trẻ đến trường, duy trì sĩ số cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm.

Cán bộ, giáo viên vùng cao đến từng nhà vận động học sinh, đưa các em tới trường - Ảnh: N.B
Tại xã Tà Rụt, sau sắp xếp, số cơ sở giáo dục trên địa bàn giảm 50%. Nhưng cùng với việc tổ chức lại mạng lưới, địa phương cũng triển khai những giải pháp phù hợp với đặc thù học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo ông Nguyễn Sĩ Huấn, Chủ tịch UBND xã Tà Rụt, các trường đã tập trung vận động học sinh, nhất là trẻ chuẩn bị vào lớp 1; tổ chức phụ đạo, tăng cường tiếng Việt trước khi các em bước vào lớp 1, giúp hình thành kỹ năng ngôn ngữ cần thiết. Cùng với đó, địa phương rà soát cơ sở vật chất, sắp xếp lớp học, điểm trường và dành gần 2 tỉ đồng từ nguồn vốn đầu tư công, vốn sự nghiệp giáo dục để sửa chữa một số trường học trên địa bàn.
Đây là một minh chứng cho thấy, sắp xếp trường lớp chỉ là bước đầu. Để mô hình mới hoạt động hiệu quả, từng địa phương phải tiếp tục giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tế, từ đội ngũ, cơ sở vật chất đến việc huy động và duy trì sĩ số học sinh.
Việc sắp xếp mạng lưới trường lớp trên địa bàn tỉnh đã được triển khai theo hướng phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Có nơi giảm trên 70%, nhưng cũng có địa bàn miền núi chỉ giảm từ 12,5% đến 40%. Sự khác biệt này không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ việc mỗi phương án được tính toán trên cơ sở quy mô trường lớp, học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, giao thông, địa hình và phân bố dân cư. Với những nơi địa hình chia cắt, dân cư phân tán, khoảng cách đi lại lớn, việc giảm đầu mối được cân nhắc thận trọng hơn để không làm phát sinh khoảng cách đi học quá xa, ảnh hưởng đến tỉ lệ chuyên cần và điều kiện học tập của học sinh.

Mục tiêu sau sắp xếp là để mỗi học sinh có cơ hội học tập tốt hơn - Ảnh: N.B
Theo ông Võ Văn Minh, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT, đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các phương án được tính toán cụ thể trên cơ sở điều kiện thực tiễn. Ngành không đặt nặng việc giảm số lượng đầu mối tại những địa bàn này, mà quan trọng nhất là không làm giảm cơ hội tiếp cận học tập của học sinh, không làm gia tăng nguy cơ bỏ học và không ảnh hưởng đến các chế độ, chính sách của học sinh, giáo viên.
Từ đồng bằng đến miền núi, thực tiễn đang cho thấy mỗi địa bàn có một cách làm riêng. Có nơi cần mạnh dạn thu gọn đầu mối; có nơi phải duy trì điểm trường để giữ cơ hội đến lớp cho học sinh. Và sau tất cả những thay đổi ấy, thước đo cuối cùng vẫn là học sinh được đến lớp đầy đủ hơn, được học tập trong điều kiện tốt hơn và có thêm cơ hội phát triển từ chính một mạng lưới giáo dục được tổ chức khoa học, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
