Tận dụng tốt UKVFTA: Dệt may Việt Nam vượt rào cản mới

Hiệp định UKVFTA giúp dệt may Việt Nam tăng xuất khẩu sang Anh, nhưng muốn giữ thị phần và tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp phải chủ động thích ứng với các yêu cầu mới.

Xuất khẩu có xu hướng tăng

Dệt may là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Vương quốc Anh, đồng thời được đánh giá là ngành hưởng lợi đáng kể từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA). Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), năm 2020, hàng dệt may xuất khẩu sang Anh chiếm 1,68% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành, đến năm 2025, tỷ trọng tăng lên 2%. Mức tăng này cho thấy, UKVFTA đã có tác động rõ ràng đến ngành, Anh cũng đồng thời trở thành thị trường “đích” trong chiến lược đang dạng hóa thị trường của doanh nghiệp Việt Nam.

Sau hơn 5 năm đi vào thực thi, Hiệp định UKVFTA giúp kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Anh tăng trưởng.

Sau hơn 5 năm đi vào thực thi, Hiệp định UKVFTA giúp kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Anh tăng trưởng.

Một trong những nguyên nhân khiến tăng trưởng xuất khẩu của dệt may sang Anh tăng trưởng nhanh đến từ cam kết thuế quan của UKVFTA. Đối với hàng dệt may, 42,5% số dòng thuế được xóa bỏ ngay từ ngày 1/1/2021; các dòng thuế còn lại tiếp tục được xóa bỏ theo lộ trình sau 2, 4 hoặc 6 năm. Đây là lợi thế không nhỏ đối với hàng Việt Nam khi cạnh tranh về giá với các nguồn cung khác tại thị trường Anh.

Đáng lưu ý, từ góc độ thị trường, triển vọng xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam vẫn được đánh giá tích cực. Nền kinh tế Anh đang từng bước ổn định, lạm phát hạ nhiệt, tạo điều kiện cải thiện sức mua. Cùng với đó, xu hướng đa dạng hóa nguồn cung của các nhà nhập khẩu Anh mở thêm cơ hội cho các nhà cung cấp Việt Nam.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, bà Alexandra Smith, Tổng Lãnh sự kiêm Giám đốc Thương mại Anh tại Việt Nam đánh giá, dư địa hợp tác giữa hai nước còn rất lớn. “Tiềm năng phát triển giữa hai nước vẫn còn rất lớn khi ngày càng nhiều doanh nghiệp tận dụng được các điều kiện thương mại thuận lợi. Việc tập trung vào những lĩnh vực mà Anh có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu cấp thiết sẽ tạo ra những đột phá mới”, bà Alexandra Smith cho biết.

Tăng năng lực nội tại, thích nghi với quy định mới

Dù kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng thị phần của phần dệt may Việt Nam tại Anh còn khiêm tốn so với quy mô thị trường nhập khẩu khoảng 20 tỷ USD mỗi năm. Hơn nữa, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ 2 công đoạn theo quy định trong UKVFTA vẫn là thách thức lớn. Theo đó, công đoạn dệt vải và công đoạn may thành phẩm phải được thực hiện tại Việt Nam hoặc Anh. Trong khi đó, Việt Nam vẫn nhập khẩu một lượng lớn vải. Số liệu từ VITAS cũng cho thấy, nhập khẩu vải từ 11,876 tỷ USD năm 2020, tăng lên 15 tỷ USD năm 2025 và 7 năm 2026 đạt 8,936 tỷ USD.

Tại UKVFTA, Anh dành cho Việt Nam cơ chế linh hoạt khi cho phép cộng gộp vải nhập khẩu từ Hàn Quốc - quốc gia có hiệp định thương mại tự do với Anh. Tuy nhiên, giá vải Hàn Quốc thường cao hơn đáng kể so với nguồn cung từ Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Trong khi đó, ngành dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu, còn nhiều đơn hàng được thực hiện theo phương thức gia công và sử dụng nguyên liệu do khách hàng chỉ định.

Một vấn đề khác đang nổi lên như một thách thức của doanh nghiệp dệt may trong tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) nói chung, UKVFTA nói riêng là năng lực tuân thủ. Nếu trước đây ưu đãi thuế được xem là lợi thế cạnh tranh trực tiếp, thì nay khả năng chứng minh doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn mới quyết định việc duy trì đơn hàng và quan hệ với nhà nhập khẩu.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS: Phát triển nguyên phụ liệu giúp dệt may Việt Nam tận dụng tốt các FTA, trong đó có UKVFTA.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS: Phát triển nguyên phụ liệu giúp dệt may Việt Nam tận dụng tốt các FTA, trong đó có UKVFTA.

Các yêu cầu về môi trường, phát thải, lao động, trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng được lồng ghép vào tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp. Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, các nhãn hàng và nước nhập khẩu đang dựng lên nhiều lớp yêu cầu chồng lấn, từ kiểm toán đến chứng nhận nguồn gốc xuất xứ. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống quản trị và phần mềm đủ khả năng chứng minh xuất xứ, tính hợp lệ của tờ khai hải quan và các dữ liệu liên quan.

Ở góc độ này, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Minh Khôi, Giám đốc Tư vấn và Chuyển đổi Viện Tony Blair vì Thay đổi Toàn cầu cho rằng, năng lực tuân thủ đang trở thành một lợi thế mới. “Bối cảnh tuân thủ đang trở thành một yêu cầu khắt khe, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng năng lực tuân thủ - khả năng tạo lập, quản lý và khai thác dữ liệu, quy trình và bằng chứng nhằm chứng minh sự tuân thủ một cách liên tục, nhất quán”, ông Khôi nhấn mạnh.

Theo ông Khôi, dữ liệu tuân thủ không nên chỉ được xem là hồ sơ hành chính phục vụ kiểm tra hay cấp chứng nhận, mà cần trở thành tài sản của doanh nghiệp. Một bộ dữ liệu được chuẩn hóa, tạo lập một lần và có thể sử dụng cho nhà nhập khẩu, ngân hàng, cơ quan quản lý hay tổ chức chứng nhận sẽ giúp giảm chi phí, hạn chế đánh giá trùng lặp và nâng cao khả năng tiếp cận vốn.

Với những vấn đề đang nổi lên như thách thức lớn của doanh nghiệp dệt may trong tận dụng UKVFTA, Bộ Công Thương khuyến nghị, doanh nghiệp dệt may nâng cao năng lực sản xuất, chế biến sâu, tìm kiếm nguồn nguyên liệu xuyên khu vực hoặc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước; chủ động tham gia tập huấn để hiểu đúng quy tắc xuất xứ; theo sát nhu cầu từng thị trường và lựa chọn đơn hàng phù hợp. Về dài hạn, chất lượng sản phẩm vẫn là yếu tố then chốt.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần giảm dần sự phụ thuộc vào gia công, tăng đầu tư cho thiết kế, thương hiệu, chuyển đổi số và xây dựng quan hệ trực tiếp với nhà bán lẻ, nhà phân phối Anh. Bởi Anh cũng đang đàm phán các hiệp định thương mại tự do với nhiều đối thủ cạnh tranh của Việt Nam, do đó ưu đãi thuế quan không phải lợi thế vĩnh viễn.

Sau hơn 5 năm, UKVFTA đã tạo một nền tảng thuận lợi để dệt may Việt Nam mở rộng thị trường Anh. Nhưng khi yêu cầu về xanh hóa, minh bạch và truy xuất trở thành tiêu chuẩn phổ biến, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy “đáp ứng yêu cầu” sang xây dựng năng lực quản trị để chủ động chứng minh sự tuân thủ.

Theo số liệu từ Cục Hải quan, 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu trên 534 triệu USD hàng dệt may, 7,9 triệu USD hàng nguyên phụ liệu dệt may, da giày sang thị trường Anh. Con số này được ghi nhận khả quan trong bối cảnh thị trường thế giới từ đầu năm tới nay có nhiều biến động.

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/tan-dung-tot-ukvfta-det-may-viet-nam-vuot-rao-can-moi-470458.html