Quy hoạch thành phố Đà Nẵng theo lưu vực
ĐNCT - Sau hợp nhất, Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 11.859,59km². Nhưng con số trên mới chỉ nói lên quy mô, chưa nói lên bản chất của lãnh thổ mới. Điều làm Đà Nẵng khác với nhiều tỉnh, thành phố có diện tích tương tự là phần lớn không gian đất liền chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của hệ thống lưu vực Vu Gia - Thu Bồn - một cấu trúc tự nhiên liên hoàn từ vùng núi, rừng đầu nguồn, hồ chứa, sông suối, đồng bằng, đô thị, cửa sông đến vùng biển.

Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Ảnh: Tư liệu
“Thành phố - lưu vực”
Các tài liệu hiện sử dụng số liệu khoảng 10.035 - 10.350km² cho toàn lưu vực Vu Gia - Thu Bồn. Tuy nhiên, không thể lấy diện tích toàn lưu vực chia trực tiếp cho diện tích Đà Nẵng để xác định tỷ lệ, bởi một phần lưu vực nằm ngoài thành phố, trong khi diện tích Đà Nẵng còn bao gồm Hoàng Sa và những khu vực thuộc các lưu vực khác.
Tỷ lệ gần 75% cần tiếp tục được chuẩn hóa bằng việc chồng lớp bản đồ địa giới hành chính với ranh giới thủy văn. Nhưng dù tỷ lệ chính xác là bao nhiêu, một sự thật vẫn rất rõ: Vu Gia - Thu Bồn chi phối phần lớn cấu trúc tự nhiên, sinh thái, dân cư và phát triển của Đà Nẵng mới.
Điều đó đòi hỏi một cách nhìn khác. Đà Nẵng không còn chỉ là một thành phố có sông chảy qua. Thành phố đang quản lý một lãnh thổ mà phần lớn các khu vực được kết nối với nhau bằng nước. Nói cách khác, Đà Nẵng cần được nhận diện và quy hoạch như một “thành phố - lưu vực”.
Một tỉnh có diện tích khoảng 12.000km² nhưng được chia thành nhiều lưu vực nhỏ tương đối độc lập có thể tổ chức phát triển theo các tiểu vùng kinh tế và hành chính.
Một dự án mở đường, khai thác khoáng sản, xây dựng khu công nghiệp hoặc phát triển đô thị trong lưu vực này chưa chắc tạo ra ảnh hưởng lớn đối với lưu vực khác. Rủi ro có thể được khoanh vùng, hạ tầng có thể được tổ chức theo từng khu vực và sai lầm ở một nơi chưa chắc lan truyền trên toàn lãnh thổ.
Đà Nẵng thì khác. Trong một lưu vực lớn, quyết định ở thượng nguồn có thể trở thành lợi ích hoặc chi phí của hạ lưu.
Phá rừng, mở đường hoặc khai thác khoáng sản ở vùng núi có thể làm thay đổi khả năng giữ nước, tăng xói mòn, bùn cát, lũ quét và sạt lở.
Vận hành hồ thủy điện không chỉ liên quan đến sản lượng điện mà còn tác động đến khả năng cắt lũ, cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, dòng chảy môi trường và xâm nhập mặn.
San lấp một vùng trũng ở trung hoặc hạ lưu có thể làm mất không gian chứa nước và chuyển nguy cơ ngập sang khu vực khác.
Xả thải vào một dòng sông ở thượng nguồn có thể trở thành vấn đề nước sạch, sức khỏe, nông nghiệp và du lịch của các đô thị phía dưới.
Sự khác biệt căn bản không nằm ở chỗ Đà Nẵng có nhiều hay ít nước, mà ở mức độ liên thông của toàn bộ lãnh thổ.
Một trận mưa lớn ở thượng nguồn có thể tạo thành một chuỗi rủi ro: Sạt lở miền núi, gia tăng dòng chảy và bùn đất, gây áp lực lên hồ chứa, tạo lũ hạ lưu, làm ngập đô thị, ô nhiễm nguồn nước và gián đoạn sản xuất.
Ngược lại, một mùa khô kéo dài có thể đồng thời gây thiếu nước sinh hoạt, giảm nước tưới, hạn chế phát điện, suy giảm dòng chảy và gia tăng xâm nhập mặn.
Đó là rủi ro hệ thống, không phải phép cộng đơn giản những rủi ro riêng lẻ. Vì vậy, không thể tiếp tục quy hoạch từng xã, từng ngành, từng dự án và từng công trình như những bộ phận độc lập.
Quy hoạch bắt đầu từ... dòng nước
Trong mô hình quy hoạch truyền thống, trước hết người ta xác định đất ở đâu, giao thông đi thế nào, khu công nghiệp đặt chỗ nào, cực tăng trưởng hình thành ở đâu; sau đó mới tính đến cấp nước, thoát nước và phòng chống thiên tai.
Đối với Đà Nẵng, trình tự đó cần được đảo lại. Thành phố phải xác định trước cấu trúc lưu vực, nguồn sinh thủy, dòng chảy, không gian chứa lũ, hành lang thoát lũ, khả năng cấp nước và sức chịu tải môi trường; sau đó mới quyết định nơi nào được phát triển, phát triển đến mức nào và bằng hình thức nào.
Nước vì thế không thể chỉ là một chương trong hồ sơ quy hoạch. Lưu vực phải trở thành bộ khung chịu lực của quy hoạch.
Điều này trước hết làm thay đổi cách nhìn về đất đai. Không phải mọi khu đất chưa xây dựng đều là quỹ đất dự trữ cho đô thị hóa.
Một vùng đất có thể không tạo ra nhiều giá trị nếu tính theo giá đất hoặc mật độ xây dựng, nhưng lại có giá trị rất lớn trong việc chứa lũ, làm chậm dòng chảy, bổ cập nước dưới đất, bảo vệ nguồn nước hoặc duy trì hành lang sinh thái. Giá trị lớn nhất của một số khu vực có thể chính là việc chúng không bị xây dựng.
Nếu chỉ nhìn bằng bản đồ sử dụng đất, vùng trũng có thể được xem là đất hiệu quả thấp. Nhưng nếu nhìn bằng bản đồ lưu vực, đó có thể là một bộ phận của hạ tầng phòng chống thiên tai.
Khi vùng trũng bị san lấp, dung tích chứa nước không biến mất; lượng nước ấy chỉ bị đẩy nhanh sang nơi khác. Một khu đô thị mới có thể an toàn nhờ nâng cao nền, nhưng toàn hệ thống lại kém an toàn hơn vì mất không gian trữ nước. Lợi ích được giữ trong hàng rào dự án, còn rủi ro bị chuyển cho cộng đồng.
Do đó, bên cạnh ngân sách tài chính và ngân sách đất đai, Đà Nẵng cần xác lập một “ngân sách nước” cho từng tiểu lưu vực: có bao nhiêu nước có thể khai thác; cần duy trì bao nhiêu dòng chảy; còn bao nhiêu dung tích chứa lũ; khả năng tiếp nhận nước thải đến đâu; diện tích bề mặt không thấm có thể tăng thêm bao nhiêu; và ngưỡng nào nếu bị vượt qua sẽ làm hệ thống mất an toàn.
Cấu trúc phát triển của thành phố cũng cần được xem xét lại theo quan hệ thượng nguồn - trung lưu - hạ lưu.
Thượng lưu không nên được nhìn đơn thuần như vùng đất rộng, mật độ thấp và còn nhiều dư địa khai thác. Đây là không gian bảo vệ rừng, nguồn sinh thủy, đa dạng sinh học và ổn định sườn dốc.
Những khu vực đóng góp ít cho ngân sách trực tiếp vẫn có thể đang cung cấp một dịch vụ sống còn cho toàn thành phố: Giữ nước, giảm lũ và bảo vệ chất lượng nguồn nước.
Trung lưu là vùng chuyển tiếp, nơi tập trung nhiều hồ chứa, công trình năng lượng, hoạt động khai thác tài nguyên và các tuyến giao thông xuyên vùng. Mỗi dự án tại đây cần được đánh giá không chỉ bằng hiệu quả kinh tế trực tiếp mà còn bằng ảnh hưởng cộng dồn đến dòng chảy, bùn cát, sạt lở và an toàn hạ lưu.
Hạ lưu là nơi tập trung dân cư, đô thị, công nghiệp, dịch vụ, di sản và giá trị tài sản lớn nhất. Nhưng đây cũng là nơi tiếp nhận gần như toàn bộ hệ quả của những quyết định phía trên.
Vì vậy, quy hoạch hạ lưu không thể chỉ dựa vào đê, kè, cống và trạm bơm. Thành phố phải dành chỗ cho nước, bảo vệ hành lang sông, duy trì vùng chứa lũ, kiểm soát san nền và tổ chức đô thị có khả năng ngập an toàn, phục hồi nhanh.
Cửa sông và vùng ven biển cũng không thể quy hoạch tách rời khỏi lưu vực. Bồi lắng, xói lở, biến động cửa sông và đường bờ chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng chảy và lượng bùn cát từ thượng nguồn.
Nếu chỉ xử lý xói lở bằng công trình tại chỗ mà không xem xét thay đổi dòng chảy, hồ chứa, khai thác cát và chỉnh trị sông phía trên, chúng ta có thể khắc phục biểu hiện nhưng không xử lý nguyên nhân.
Chọn cực phát triển từ cấu trúc lưu vực
Cách tiếp cận lưu vực đặc biệt quan trọng đối với việc xác định các cực và hành lang phát triển của Đà Nẵng. Một khu vực nằm giữa hai cực Bắc - Nam không đương nhiên phải trở thành cực thứ ba chỉ vì có vị trí trung tâm hoặc còn nhiều đất.
Trước khi hình thành một cực mới, cần trả lời khu vực đó đang giữ vai trò gì trong lưu vực: có phải là vùng chứa và truyền lũ; vùng bổ cập nước; không gian nông nghiệp; hành lang sinh thái; vùng bảo vệ di sản; hay khu vực có chi phí cấp nước, thoát nước và chống ngập rất lớn?
Nếu nguồn lực của Đà Nẵng chưa đủ để nuôi ba cực, còn khu vực giữa chưa vượt qua các ngưỡng về động lực kinh tế, hạ tầng và sức chịu tải, thì không nên vội “phong cực”. Có thể giữ nơi đây như một vùng chiến lược, vùng đệm sinh thái - thủy văn hoặc cực tiềm năng có điều kiện, để tương lai tự chứng minh khả năng chuyển trạng thái.
Đối với hệ thống hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn, tư duy quản lý riêng từng công trình cũng không còn phù hợp. Một hồ có thể vận hành tối ưu cho phát điện nhưng chưa chắc tối ưu cho toàn lưu vực.
Mục tiêu phải được sắp xếp theo trật tự: An toàn công trình và tính mạng con người; giảm lũ cho hạ lưu; bảo đảm nước sinh hoạt và sản xuất; duy trì dòng chảy; sau đó mới đến lợi ích phát điện.
Quy trình vận hành phải linh hoạt theo dự báo mưa, trạng thái lưu vực và nhu cầu thực tế, thay vì chỉ tuân theo những mốc thời gian cứng đã được xác lập từ điều kiện khí hậu quá khứ.
Đà Nẵng cần xây dựng một mô hình số toàn lưu vực, kết nối dữ liệu địa hình, mưa, dòng chảy, hồ chứa, rừng, sử dụng đất, nguồn thải, chất lượng nước, độ mặn, ngập, sạt lở và tài sản có nguy cơ.
Cùng với đó phải hình thành cơ chế phân phối công bằng lợi ích và chi phí. Người dân miền núi bảo vệ rừng và chấp nhận hạn chế khai thác để giảm lũ, giữ nước cho hạ lưu thì phải được hưởng lợi tương xứng. Những khu vực dành đất làm vùng chứa lũ không thể bị coi là chậm phát triển và tự gánh toàn bộ chi phí cơ hội.
Người hưởng lợi từ nguồn nước, điện năng, đô thị và dịch vụ ở hạ lưu phải có trách nhiệm đóng góp cho việc bảo vệ hệ sinh thái ở thượng nguồn.
Quy hoạch theo lưu vực là để phát triển đúng nơi, đúng mức độ và đúng cách; tránh tạo ra những tài sản hôm nay nhưng để lại nghĩa vụ chống ngập, thiếu nước, ô nhiễm và khắc phục thiên tai cho nhiều thế hệ sau. Gần 12.000km² cho biết Đà Nẵng rộng bao nhiêu. Vu Gia - Thu Bồn mới cho biết Đà Nẵng vận hành như thế nào.
Nếu tiếp tục nhìn lãnh thổ mới như phép cộng cơ học của các đô thị, xã, phường, khu công nghiệp và dự án, chúng ta có thể đạt được tăng trưởng cục bộ nhưng làm suy yếu toàn hệ thống. Nếu nhìn thành phố như một lưu vực thống nhất, Đà Nẵng có cơ hội tổ chức lại quan hệ giữa miền núi với đồng bằng, giữa bảo tồn với phát triển, giữa đầu tư hôm nay với an toàn ngày mai.

