Phép thử sức chống chịu của kinh tế ASEAN
Trong nhiều năm, Đông Nam Á được xem là một trong những điểm sáng của kinh tế thế giới. Tăng trưởng tương đối cao, dân số trẻ, thị trường tiêu dùng mở rộng và vị trí chiến lược giữa các trung tâm kinh tế lớn đã giúp ASEAN ngày càng thu hút đầu tư và trở thành mắt xích quan trọng trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng năm 2026 đang đặt khu vực trước một phép thử khắc nghiệt hơn nhiều.

Khi thương mại trở thành phép thử sức chống chịu của kinh tế khu vực ASEAN. Ảnh: Reuters.
Thuế quan của Mỹ, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, những biến động trên thị trường năng lượng và sự bất ổn của thương mại toàn cầu đang cùng lúc tạo sức ép lên mô hình tăng trưởng vốn phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu và dòng vốn quốc tế. Câu hỏi vì thế không còn đơn giản là ASEAN có tiếp tục tăng trưởng hay không. Vấn đề lớn hơn là ASEAN có đủ sức hấp thụ những cú sốc bên ngoài, thích ứng với một môi trường kinh tế đang thay đổi nhanh chóng và biến khủng hoảng thành động lực tái cấu trúc hay không?
Khi thương mại toàn cầu trở thành phép thử
Một trong những sức ép rõ nhất đối với ASEAN hiện nay đến từ chính sách thương mại của Mỹ. Singapore là ví dụ điển hình. Reuters mới đây dẫn thông tin từ Chính phủ Singapore cho biết khoảng 7,4 tỷ USD hàng hóa xuất khẩu của nước này sang Mỹ sẽ chịu tác động từ mức thuế mới. Con số này cho thấy mức độ hội nhập sâu của các nền kinh tế Đông Nam Á với thị trường Mỹ và qua đó cho thấy bất kỳ sự thay đổi lớn nào trong chính sách thương mại của Washington đều có thể nhanh chóng lan sang khu vực.
Đối với ASEAN, đây là vấn đề đặc biệt nhạy cảm.Trong nhiều thập kỷ, chiến lược tăng trưởng của các nền kinh tế Đông Nam Á dựa khá nhiều vào thương mại quốc tế. Các quốc gia trong khu vực tận dụng lợi thế về chi phí sản xuất, nguồn nhân lực, vị trí địa lý và mạng lưới thương mại để thu hút các tập đoàn đa quốc gia.
Từ điện tử, dệt may, giày dép đến máy móc, linh kiện và hàng tiêu dùng, hàng hóa sản xuất tại ASEAN ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng chính sự hội nhập sâu ấy cũng tạo ra một nghịch lý.
ASEAN càng gắn kết với thương mại toàn cầu thì càng dễ chịu tác động khi thương mại toàn cầu biến động.
Thuế quan không chỉ làm tăng chi phí đối với một sản phẩm cụ thể. Nó có thể khiến doanh nghiệp phải thay đổi địa điểm sản xuất, điều chỉnh chuỗi cung ứng, trì hoãn đầu tư hoặc chuyển chi phí sang người tiêu dùng.
Với các nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, tác động cuối cùng có thể lan từ khu vực doanh nghiệp sang thị trường lao động, tiêu dùng và ngân sách nhà nước. Đó chính là lý do sức chống chịu của ASEAN đang được thử thách từ bên ngoài trước khi những vấn đề bên trong kịp được giải quyết.
Cú sốc năng lượng có thể tạo hiệu ứng dây chuyền
Nếu thuế quan tác động trực tiếp đến thương mại, thì năng lượng lại có khả năng tác động tới gần như toàn bộ nền kinh tế.
Những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang cho thấy mức độ mong manh của thị trường năng lượng toàn cầu. Reuters đưa tin các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ quan ngại về những rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và thậm chí thảo luận cơ chế chia sẻ dầu nhằm giảm tác động của cú sốc nguồn cung. Đối với một khu vực đang phát triển nhanh như ASEAN, đây không phải vấn đề nhỏ.

Tăng trưởng kinh tế Indonesia trong quý II/2026 được dự báo chậm lại khi tiêu dùng và xuất khẩu suy yếu. Ảnh: Reuters.
Giá dầu tăng sẽ nhanh chóng làm tăng chi phí vận tải, sản xuất và logistics. Giá nhiên liệu cao cũng có thể đẩy lạm phát lên, làm giảm sức mua của người dân và buộc các ngân hàng trung ương phải cân nhắc giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát giá cả.
Indonesia là một trường hợp đáng chú ý.Theo Reuters, tăng trưởng kinh tế Indonesia trong quý II/2026 được dự báo chậm lại khi tiêu dùng và xuất khẩu suy yếu. Trong khi đó, chi phí năng lượng tăng tạo thêm sức ép lên nền kinh tế.
Điều đáng lưu ý là Indonesia là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, với thị trường nội địa rất rộng. Nếu ngay cả một nền kinh tế có quy mô và dư địa tiêu dùng lớn như Indonesia cũng chịu tác động từ sự suy yếu của xuất khẩu và biến động năng lượng, điều đó cho thấy sức ép bên ngoài đang ngày càng khó tránh. Cú sốc năng lượng vì thế có thể trở thành một phép thử kép. Một mặt, nó thử khả năng bảo đảm nguồn cung năng lượng. Mặt khác, nó thử khả năng điều hành kinh tế vĩ mô của từng quốc gia.
ASEAN không thể chỉ dựa vào xuất khẩu
Một trong những bài học quan trọng nhất từ những biến động hiện nay là tăng trưởng dựa vào xuất khẩu vẫn là lợi thế, nhưng không thể là chiếc phao duy nhất. Khi thị trường Mỹ thay đổi chính sách, khi kinh tế Trung Quốc giảm tốc hoặc khi thương mại toàn cầu suy yếu, những quốc gia phụ thuộc quá nhiều vào nhu cầu bên ngoài sẽ dễ bị tổn thương. Đây là lúc thị trường nội địa của ASEAN trở thành một lớp đệm quan trọng. Hơn 680 triệu người, tầng lớp trung lưu đang mở rộng và tốc độ đô thị hóa cao tạo cho ASEAN một thị trường tiêu dùng đủ lớn để giảm bớt sự phụ thuộc vào một số thị trường bên ngoài.
Indonesia có lợi thế về quy mô dân số. Việt Nam có tốc độ phát triển nhanh của tầng lớp trung lưu và khu vực sản xuất. Philippines sở hữu lực lượng lao động trẻ và dòng kiều hối lớn. Malaysia và Thái Lan có nền công nghiệp phát triển tương đối đa dạng. Singapore tiếp tục giữ vai trò trung tâm tài chính, logistics và dịch vụ của khu vực. Những khác biệt ấy nếu được kết nối hiệu quả có thể tạo ra một lợi thế lớn cho toàn ASEAN.
Thay vì chỉ xuất khẩu sản phẩm ra ngoài khu vực, ASEAN có thể gia tăng thương mại nội khối, phát triển các chuỗi cung ứng khu vực và tận dụng thị trường 680 triệu dân như một động lực tăng trưởng. Nói cách khác, sức chống chịu của ASEAN sẽ không chỉ phụ thuộc vào khả năng bán hàng ra thế giới mà còn phụ thuộc vào khả năng mua bán, đầu tư và sản xuất cùng nhau trong chính khu vực này.

Mỹ-Trung cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực từ thương mại, công nghệ đến an ninh. Ảnh: CGTN.
Cạnh tranh Mỹ - Trung và bài toán cân bằng
Tuy nhiên, ASEAN đang phải đối mặt với một bài toán khó hơn nhiều: cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Hai cường quốc này đều có vai trò đặc biệt quan trọng đối với kinh tế Đông Nam Á. Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các quốc gia ASEAN. Trong khi đó, Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng, nguồn đầu tư lớn và là đối tác kinh tế quan trọng trong nhiều ngành công nghệ. Vì vậy, ASEAN rất khó lựa chọn một bên. Reuters nhận định các nền kinh tế châu Á đang tìm kiếm sự linh hoạt chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung ngày càng kéo dài. Thay vì hoàn toàn đứng về một phía, nhiều quốc gia có xu hướng đa dạng hóa quan hệ thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng. Đây cũng chính là cách tiếp cận phù hợp với ASEAN. Không chọn phe không có nghĩa là đứng ngoài cuộc cạnh tranh. Đó là nỗ lực duy trì không gian chiến lược để tiếp tục hợp tác kinh tế với nhiều đối tác nhất có thể. Trong thực tế, cạnh tranh Mỹ - Trung thậm chí còn tạo ra một cơ hội đáng kể cho Đông Nam Á.
Khi các tập đoàn toàn cầu muốn giảm phụ thuộc vào một địa điểm sản xuất duy nhất, ASEAN có thể trở thành một trong những điểm đến hưởng lợi từ quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và một số quốc gia khác đã thu hút các dự án sản xuất điện tử, bán dẫn, ô tô, pin, thiết bị công nghiệp và logistics. Nhưng cơ hội này không tự động biến thành lợi ích lâu dài.
Nếu ASEAN chỉ trở thành nơi lắp ráp cuối cùng, phần giá trị gia tăng lớn nhất vẫn nằm ở bên ngoài khu vực. Khi đó, dòng vốn có thể tiếp tục dịch chuyển sang nơi có chi phí thấp hơn hoặc ưu đãi hấp dẫn hơn. Thách thức lớn hơn là phải biến làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng thành năng lực sản xuất thực sự của khu vực.
Việt Nam và bài toán nâng chất lượng tăng trưởng
Trong bức tranh đó, Việt Nam là một trường hợp đáng chú ý. Theo World Bank, kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 6,8% trong năm 2026, thấp hơn mức 8% của năm 2025 nhưng vẫn thuộc nhóm có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. Xuất khẩu, đầu tư và sức chống chịu của nền kinh tế trong nước tiếp tục là những động lực quan trọng.
Tuy nhiên, World Bank cũng chỉ ra một vấn đề có ý nghĩa dài hạn: Việt Nam cần nâng cao khả năng giữ lại giá trị trong nước, tăng liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa, đồng thời nâng năng suất.

Theo World Bank, kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 6,8% trong năm 2026. Ảnh: Wion.
Đây cũng là bài toán chung của ASEAN. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trở thành công xưởng sản xuất có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Nhưng trong giai đoạn tiếp theo, điều quyết định không chỉ là có bao nhiêu nhà máy được xây dựng mà là nền kinh tế trong nước giữ lại được bao nhiêu giá trị từ những nhà máy đó. Nếu doanh nghiệp nội địa không thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, công nghệ không được chuyển giao đủ mạnh và năng suất lao động không được cải thiện, lợi ích từ dòng vốn FDI sẽ có giới hạn. ASEAN vì thế cần chuyển từ chiến lược “thu hút đầu tư” sang chiến lược “nâng chất lượng đầu tư”.
Sức chống chịu không chỉ nằm ở GDP
World Bank dự báo tăng trưởng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương sẽ giảm từ 5% năm 2025 xuống khoảng 4,2% năm 2026 trong bối cảnh hàng rào thương mại cao, bất định chính sách và cú sốc năng lượng. Con số này cho thấy môi trường kinh tế bên ngoài đang trở nên khó khăn hơn. Nhưng sức chống chịu của một nền kinh tế không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP.
Một nền kinh tế thực sự có khả năng chống chịu phải có khả năng duy trì việc làm khi xuất khẩu giảm, kiểm soát lạm phát khi giá năng lượng tăng, bảo vệ sức mua của người dân khi chi phí sinh hoạt leo thang và tiếp tục đầu tư ngay cả khi dòng vốn quốc tế biến động.
Ở góc độ này, ASEAN vẫn có những lợi thế đáng kể. Dân số trẻ, thị trường nội địa lớn, vị trí địa lý chiến lược, sự hiện diện ngày càng sâu của các tập đoàn đa quốc gia và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những lớp đệm quan trọng.
Nhưng những lợi thế đó chỉ phát huy hiệu quả nếu các nước thành viên đồng thời giải quyết những điểm yếu cố hữu như hạ tầng chưa đồng đều, năng suất thấp, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng liên kết giữa các nền kinh tế và mức độ phụ thuộc vào thị trường bên ngoài.
Biến sức ép thành cơ hội tái cấu trúc
Có một nghịch lý đáng chú ý: chính những sức ép hiện nay lại có thể thúc đẩy ASEAN thay đổi nhanh hơn. Thuế quan buộc doanh nghiệp phải đa dạng hóa thị trường. Cạnh tranh Mỹ - Trung thúc đẩy các tập đoàn xây dựng chuỗi cung ứng mới. Biến động năng lượng buộc các quốc gia phải tăng tốc chuyển đổi năng lượng và đa dạng hóa nguồn cung. Sự bất ổn của thương mại toàn cầu buộc ASEAN phải nhìn nghiêm túc hơn vào thị trường nội khối. Nếu tận dụng được những động lực đó, ASEAN có thể bước ra khỏi cuộc khủng hoảng với một mô hình kinh tế cân bằng hơn.
Đó sẽ là một ASEAN ít phụ thuộc hơn vào một thị trường đơn lẻ, có chuỗi cung ứng khu vực sâu hơn, thị trường nội địa mạnh hơn và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Nhưng nếu không tận dụng được cơ hội, khu vực có nguy cơ chỉ trở thành nơi hấp thụ những phần việc có chi phí thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi những giá trị lớn nhất vẫn nằm ở nơi khác.
Phép thử thực sự nằm ở khả năng thích ứng
ASEAN từng nhiều lần chứng minh khả năng vượt qua khủng hoảng. Từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến đại dịch COVID-19, khu vực đã liên tục điều chỉnh để duy trì tăng trưởng.

ASEAN là một thị trường tiêu dùng đủ lớn để giảm bớt sự phụ thuộc vào một số thị trường bên ngoài. Ảnh: CCTV.
Nhưng môi trường hiện nay khác trước. Các cú sốc không còn xuất hiện riêng lẻ. Thương mại, địa chính trị, năng lượng, công nghệ và tài chính đang đan xen với nhau.
Một quyết định thuế quan ở Washington có thể tác động đến nhà máy tại Việt Nam. Một cuộc khủng hoảng tại Trung Đông có thể ảnh hưởng đến giá nhiên liệu tại Indonesia. Một thay đổi trong chuỗi cung ứng của một tập đoàn toàn cầu có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa tới nhiều nền kinh tế Đông Nam Á.
Chính sự liên kết đó khiến ASEAN dễ bị tác động hơn, nhưng đồng thời cũng khiến hợp tác khu vực trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Phép thử sức chống chịu của ASEAN vì thế không chỉ là phép thử đối với từng quốc gia. Đó còn là phép thử đối với khả năng hành động như một cộng đồng kinh tế.
Nếu ASEAN có thể tận dụng quy mô thị trường, kết nối hạ tầng, thúc đẩy thương mại nội khối, phối hợp về năng lượng và xây dựng những chuỗi cung ứng khu vực có khả năng chống chịu cao hơn, những cú sốc hiện nay có thể trở thành chất xúc tác cho một giai đoạn phát triển mới. Còn nếu mỗi nền kinh tế chỉ tìm cách tự bảo vệ mình, lợi thế lớn nhất của ASEAN, đó là sức mạnh của một khu vực có tính liên kết cao, sẽ khó được phát huy.






























