Những trang sử trên đá
VHXQ - Những tấm bia đá ở xứ quảng không chỉ lưu dấu chuyện làng, chuyện họ, mà còn kể về hành trình mở đất, giao thương và giao thoa văn hóa. qua những dòng chữ hán - nôm, một phần ký ức của vùng đất được lưu giữ qua thời gian.

Bia Trùng tu Lai Viễn kiều ký - một lớp ký ức được lưu giữ trên Chùa Cầu. Ảnh: M.T
Dấu xưa trong từng nét khắc
Xứ Quảng là vùng đất có lịch sử địa - văn hóa đặc trưng, thể hiện qua sự giao thoa giữa nền văn hóa bản địa Sa Huỳnh - Champa và văn hóa cổ truyền của người Việt. Tiến trình ấy được ghi dấu trong nhiều nguồn tư liệu thành văn, tiêu biểu là hệ thống bia ký Champa và văn bia Hán Nôm.
Được ví như những “trang sử bằng đá”, văn bia Hán - Nôm lưu giữ nhiều thông tin về quá trình di dân, khai phá, lập làng của người Việt trong công cuộc Nam tiến, đồng thời phản ánh sự tích hợp tín ngưỡng và giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng.
Trước hết, văn bia là nguồn sử liệu trực tiếp về quá trình di dân, khai canh lập nghiệp của lưu dân Đại Việt qua các thời kỳ Mạc, Lê và chúa Nguyễn. Nhiều văn bia cổ tại Quảng Nam còn ghi lại quê hương, bản quán của các tộc họ từ Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An... Đây là nguồn tư liệu quan trọng để bổ sung, xác minh lịch sử địa phương và nghiên cứu gia phả các dòng họ.
Không chỉ phản ánh lịch sử làng xã, văn bia Hán - Nôm còn là cứ liệu về quan hệ ngoại giao, thương mại quốc tế. Tại Hội An, các bia mộ người Nhật Bản, văn bia ở các hội quán người Hoa và văn bia Trùng tu Lai Viễn kiều ký ở Chùa Cầu là những văn bản gốc cho thấy thời kỳ giao thương phát triển giữa Đàng Trong với Nhật Bản và Trung Hoa thời Minh - Thanh. Những tư liệu này góp phần khẳng định vị thế của xứ Quảng như một “cửa ngõ thương cảng quốc tế” quan trọng của cõi Nam Hà thời chúa Nguyễn.
Đặc biệt, Ngũ Hành Sơn còn lưu giữ hệ thống gần 100 văn bia Ma nhai, khắc trên vách đá tại các hang động như Huyền Không, Tàng Chơn, Vân Thông, Âm Phủ, Linh Nham..., có niên đại từ đầu thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20. Trong đó, văn bia Ngũ uẩn sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc (1631) của thiền sư Huệ Đạo Minh là cứ liệu xác thực về dấu ấn Phật giáo xứ Quảng và quá trình khai phá danh thắng từ đầu thế kỷ 17. Văn bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật (khoảng năm 1640) lại lưu giữ những thông tin đáng chú ý về quan hệ giao lưu kinh tế, hàng hải giữa Đại Việt với các quốc gia Đông Á.
Từ làng xã đến thương cảng, từ những ngôi chùa đến vách đá Ngũ Hành Sơn, hệ thống văn bia đã góp phần làm rõ những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa của xứ Quảng qua nhiều thế kỷ.
Để bia đá còn kể chuyện
Thống kê sơ bộ cho thấy xứ Quảng hiện còn khoảng 1.000 tư liệu văn bia Hán - Nôm, phản ánh nhiều mặt của đời sống lịch sử, văn hóa, ngoại thương và làng xã. Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo tồn nguồn di sản này đang đứng trước không ít thách thức.

Những dòng văn khắc trên bia mộ Binh bộ Thượng thư Nguyễn Văn Điển ở Trà Quế góp phần làm sáng rõ thân thế, sự nghiệp của một nhân vật lịch sử. Ảnh: M.T
Trước hết là sự phân tán và xuống cấp do tác động của tự nhiên. Văn bia nằm rải rác ở nhiều địa bàn; bão lũ, độ ẩm, xói mòn và phong hóa khiến không ít bia bị mờ chữ, nứt vỡ hoặc thất lạc. Một số văn bia ở vùng địa hình hiểm trở, núi cao vẫn chưa được khảo sát, tiếp cận và số hóa đầy đủ.
Đáng lưu ý là hạn chế trong nhận thức xã hội. Do thiếu thông tin, một bộ phận cộng đồng còn quan niệm chữ Hán - Nôm là sản phẩm thuần túy của chế độ phong kiến hoặc đồng nhất với văn hóa Trung Quốc. Nhận thức chưa đầy đủ ấy dẫn đến sự thờ ơ, buông lỏng quản lý, thậm chí làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn di sản tại một số di tích.
Để bảo tồn bền vững hệ thống văn bia Hán Nôm xứ Quảng, trước hết cần tăng cường khảo sát, thống kê và số hóa. Cần tổ chức các đợt điều tra điền dã để rà soát, lập danh mục văn bia cổ tại đình, chùa, miếu và các di tích; tiến hành in rập thác bản, sao chụp kỹ thuật số, xây dựng kho dữ liệu dự phòng, hạn chế nguy cơ mất thông tin khi hiện vật gốc bị phong hóa.
Cùng với đó là chuẩn hóa kỹ thuật bảo tồn hiện vật. Cần thường xuyên kiểm kê tình trạng vật lý và môi trường của văn bia; có phương án che chắn phù hợp, xử lý rêu mốc và các tác nhân gây hại nhằm kéo dài tuổi thọ hiện vật.
Việc dịch thuật và công bố khoa học cũng cần được đẩy mạnh. Địa phương nên phối hợp với các chuyên gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm để dịch thuật, chú giải và công bố hệ thống văn bia; qua đó làm rõ hơn giá trị của nguồn tư liệu này trong dòng chảy lịch sử dân tộc.
Công nghệ số cũng mở ra hướng bảo tồn và phát huy mới. Quét 3D, thực tế ảo, mã QR có thể được ứng dụng để tích hợp thông tin văn bia vào giáo dục học đường và du lịch văn hóa. Đồng thời cần có sự liên kết giữa các địa phương để chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng những mô hình và chính sách bảo tồn phù hợp với đặc thù của loại hình di sản thành văn bằng đá.
Văn bia Hán - Nôm không chỉ là những dòng chữ của một thời đã qua. Trong đó có dấu chân của những thế hệ đã đến, khai phá, lập làng, dựng chùa, mở phố và giao thương trên vùng đất xứ Quảng. Vì vậy, giữ gìn những tấm bia cũng là giữ lại những mảnh ký ức của quê hương, để những câu chuyện của tiền nhân còn được kể cho các thế hệ mai sau.

