Gia phả - nối dòng cội nguồn
VHXQ - Gia phả không chỉ ghi chép thứ thế, danh tính, quê quán, hôn nhân, tử táng, sinh hạ mà còn là nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa, chính trị của dòng tộc và địa phương.

Lời nói đầu của một gia phả. Ảnh: PTH
Gia phả thể hiện truyền tự dòng tộc
Sự xuất hiện và trường tồn của dòng tộc có 4 điều kiện cơ bản: truyền sinh - con cháu nối đời trong dòng tộc; văn tự - gia phả và tông đồ; văn hóa - gia phong, lễ nghi dòng tộc; cơ sở - từ đường Thủy tổ. Trong những điều kiện trên, yếu tố truyền sinh quan trọng nhất.
Truyền sinh huyết thống là yếu tố sinh học tự nhiên được gia phả kết nối, sinh hạ thành hệ thống thứ thế truyền dẫn của một dòng tộc, mỗi một tộc nhân. Gia phả phản ánh hoàn cảnh địa lý, chính trị, xã hội được xác định thông qua thời điểm biên soạn và danh xưng dòng tộc, địa danh tổ quán, nơi dòng tộc định cư, thể hiện trong lời khải tự của gia phả.
Gia phả ghi về quá trình di cư, lập nghiệp dòng họ. Trong Cẩm Phô Phạm Văn tộc chí chép rằng: “Ngã tiên tổ nguyên Thanh Hóa tỉnh, Hà Trung phủ, Hoằng Hóa huyện, Bái Trạch tổng, Phụng Lịch nhân. Tùng binh lưu Quảng Nam, cư tại Duy Xuyên huyện, Hạc Toán xã”...
Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, Thủy tổ dòng tộc phần lớn “tự Bắc lai Nam”, Nam tiến theo 2 phong trào di cư: phong trào “Phụng chỉ bình Chiêm” 1471 - 1570, dòng tộc sinh hạ tính đến nay khoảng 21 đời đến 30 đời; và phong trào “Bắc địa tùng Vương” 1570 - 1802, dòng tộc sinh hạ tính đến nay khoảng 9 đời đến 22 đời.
Thủy tổ là vị tổ đầu tiên, đời thứ nhất, khai sinh ra một dòng tộc, có tên, tuổi, lịch sử bản thân, công trạng, mồ mả ghi trong gia phả. Gia phả ghi chép “hành trạng” của vị thủy tổ và các vị tổ truyền thừa hữu công với dòng tộc.
Dòng tộc liên tục truyền sinh nhiều thế hệ, gia phả phân hệ chia theo hệ thống từ lớn đến nhỏ theo hình tượng “Mộc phát thiên chi”: Thủy Tổ → Tông → Chi → Phân chi → Tiểu chi → Tiết → Phân tiết → Tiểu tiết → Diệp → Phân diệp → Tiểu diệp.
Nguyễn Gia bổn phả chép: “Tự nhi sinh kế phồn thịnh, bổn tộc bách thế du diễn thiên nhân vĩnh lưu cư. Đệ Nhất phái cư Nam An xã, Đệ Nhị phái cư Phú Triêm xã, Đệ Tam phái cư Thanh Hà xã”.
Dịch nghĩa: “Từ đó sinh kế phồn thịnh, tộc ta trăm đời sinh sôi ngàn người lưu cư trú ngụ. Phái Nhất ở xã Nam An, Phái Nhị ở xã Phú Triêm, Phái Ba ở xã Thanh Hà”.
Trong một dòng tộc, cá nhân không thể viết được toàn bộ gia phả mà chỉ kế thừa đời trước và truyền lại đời sau. Gia phả có ý nghĩa tín ngưỡng thiêng liêng, được truyền lưu, phụng tự trang trọng tại từ đường.
Gia phả - nguồn tư liệu lịch sử địa phương
Nội dung ghi chép trong gia phả là nguồn tư liệu sử địa, văn hóa, chính trị của một vùng miền, từ các cấp làng, xã, tỉnh, thành. Quá trình khai canh, lập làng xã gắn liền với nhiều vị Thủy tổ tộc hữu công đã trở thành tiền hiền của làng xã. Vì vậy, cụm từ “Thủy tổ - Tiền hiền” xuất hiện trong nhiều bản gia phả để di lưu công tích, tạo nên niềm tự hào dòng tộc gọi là “Tộc tiền hiền”. Giỗ Thủy tổ do bổn tộc tổ chức, giỗ Tiền hiền do cộng đồng làng xã tổ chức.

Trang gia phả của tộc Hứa Công (Trường Lệ). Ảnh: PTH
Gia phả Phạm Trường tộc Bàn Lãnh chép: “Cao Bình quận Phạm Trường tộc - Bàn Lãnh triệu cơ. Ngài tên thụy là Đại Đức, Phạm quý công, chánh danh Phạm Trường Thọ sinh năm 1539 là người có chí lớn từ đất Bắc Nghệ An phụng mệnh tùng Vương, thẳng đường Nam tiến, đến Thừa tuyên Quảng Nam cùng với ngài Đỗ Long Bảng khai khẩn đất hoang lập làng Bàn Lãnh. Ngài mất năm 1644 thượng thọ 104 tuổi. Ngài chính là vị Tiền hiền của dòng họ Phạm Trường - Bàn Lãnh đến nay (2012) hơn 440 năm, truyền sinh con cháu đến đời thứ 17, 18. Nguyên phối Thủy tổ tỷ, bất tri tánh danh. Sinh hạ ba vị nam tử thuộc đời thứ 2 hình thành 3 Phái đời sau”.
Tiền hiền của một làng xã cũng được ghi chép trang trọng trong gia phả, như Chư tộc Tiền hiền xã Hà Lộc gồm có 9 vị Tiền hiền, ghi theo thứ tự ưu liệt gồm Đệ nhất Tiền hiền, Đệ nhị Tiền hiền… Gia phả ghi chép các vị Thủy tổ tộc là những danh nhân lịch sử như Phạm Nhữ Dực trong gia phả tộc Phạm - Đồng Tràm, Phạm Nhữ Tăng trong gia phả tộc Phạm Hương Quế (nay thuộc xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng).
Gia phả ghi chép bằng chữ Hán - Nôm, trong đó chữ Nôm được sử dụng ghi chép địa danh và tên người phát âm thuần Việt. Các địa danh xuất hiện trong gia phả thể hiện phân cư, địa giới của địa phương như Cồn Hến, Xóm Da… Các tên người kèm theo chức danh thể hiện phân tầng giai cấp như Chánh tổng, Lý trưởng, Hương mục. Phần ngoại phả ghi chép văn tế, lễ nghi, quy ước dòng tộc, phản ánh phong tục truyền thống địa phương.
Số hóa gia phả và phổ cập đại chúng
Từ bao đời nay, gia phả của các dòng họ thường được gìn giữ trang trọng trên bàn thờ tổ tiên như một báu vật của tông môn và chỉ được mở vào những dịp cúng tế, con cháu không được tùy tiện xem đọc. Cách gìn giữ ấy thể hiện sự kính cẩn đối với tiền nhân, song cũng có điều mâu thuẫn. Trong khi gia phả là nơi lưu giữ cội nguồn, gia phong và truyền thống của dòng họ, thì chính con cháu lại khó có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu tường tận những gì cha ông để lại.
Trong xã hội hiện đại, việc gìn giữ gia phả cần được phổ biến rộng rãi trong toàn tộc và từng bước số hóa để bảo tồn lâu dài. Gia phả có thể được scan, hình ảnh hóa và lưu trữ dưới dạng PDF, gắn với mã số và đường dẫn dữ liệu điện tử để thuận tiện cho việc quản lý, tra cứu, bổ sung, cập nhật.
Rộng hơn, nếu các dòng họ cùng thực hiện việc số hóa và kết nối dữ liệu, những bộ gia phả sẽ không chỉ là tư liệu riêng của mỗi tộc họ, mà còn có thể góp phần hình thành một kho tư liệu lịch sử - văn hóa địa phương, lưu giữ dấu tích về nguồn cội, nhân vật, làng xóm và các dòng họ qua nhiều thế hệ.

