Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9.2026

Từ tháng 9.2026, nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến quyền tiếp cận thông tin, căn cước, định danh địa điểm, bản quyền báo chí, bảo hiểm xã hội và sử dụng VNeID chính thức được áp dụng.

Mỗi địa điểm có một mã định danh 12 chữ số

Theo Nghị định số 326/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.9.2026, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất gồm 12 chữ số. Mã được cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, không trùng lặp và có tính ổn định lâu dài.

Đối tượng được định danh gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh và các cấu trúc vật lý khác, trừ đối tượng thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Mỗi thửa đất sẽ có một mã định danh 12 chữ số

Mỗi thửa đất sẽ có một mã định danh 12 chữ số

Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm bao gồm mã định danh, đối tượng định danh, địa chỉ, lối tiếp cận, mã bưu chính, tọa độ, trạng thái hoạt động, tên địa điểm và các thông tin liên quan. Dữ liệu về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sở hữu hoặc người sử dụng địa điểm thuộc nhóm dữ liệu không công khai; việc khai thác phải tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước.

Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên VNeID. Khi thông tin trong thành phần hồ sơ đã có trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không yêu cầu cung cấp lại.

Đối với những đối tượng đã có đầy đủ trường thông tin tối thiểu, dữ liệu được đồng bộ để thực hiện cấp mã khi Nghị định có hiệu lực. Trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ, các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Công an xây dựng lộ trình thu thập, bổ sung và đồng bộ dữ liệu.

Tạo thuận lợi hơn trong tiếp cận thông tin

Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 1.9.2026, quy định mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ, kịp thời; việc cung cấp thông tin được đẩy mạnh trên môi trường số.

Trách nhiệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin không chỉ được đặt ra đối với cơ quan nhà nước mà còn bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Cùng có hiệu lực từ ngày 1.9, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp hỗ trợ người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Căn cứ điều kiện thực tế, cơ quan, đơn vị trang bị, sử dụng công nghệ, thiết bị hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin phù hợp với dạng tật; bố trí người hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ người gặp khó khăn khi điền, ký phiếu yêu cầu cung cấp thông tin.

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, thông tin có thể được cung cấp thông qua phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc, hệ thống thông tin cơ sở, tài liệu trực quan, sinh hoạt cộng đồng hoặc thông qua già làng, trưởng thôn và người có uy tín.

Trẻ dưới 6 tuổi được làm căn cước trong quy trình khai sinh

Nghị định số 301/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.9.2026, bổ sung thủ tục cấp thẻ căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi vào quy trình liên thông điện tử đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế.

Việc cấp thẻ căn cước trong quy trình liên thông chỉ được thực hiện khi người đại diện hợp pháp đề nghị cấp thẻ cho trẻ tại bước nộp hồ sơ trực tuyến. Đây là thủ tục theo nhu cầu, không đồng nghĩa mọi trẻ em đều tự động được cấp thẻ căn cước sau khi đăng ký khai sinh.

Đối với trẻ dưới 6 tuổi, cơ quan quản lý căn cước không thu nhận thông tin nhân dạng và thông tin sinh trắc học. Thời gian giải quyết cấp thẻ không quá năm ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được hồ sơ điện tử.

Dữ liệu điện tử về khai sinh và thẻ bảo hiểm y tế đã được cấp trong quy trình liên thông được trích xuất để tích hợp vào thẻ căn cước và tài khoản định danh điện tử của trẻ theo quy định.

Tiền bản quyền khai thác tác phẩm báo chí không thấp hơn 20%

Có hiệu lực từ ngày 1.9.2026, Nghị định số 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.

Đối với báo in và báo điện tử, tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm do cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp, ủy quyền thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng.

Mức tiền bản quyền được xác định trên cơ sở tần suất, thời lượng, vị trí sử dụng, mục đích, phạm vi, hình thức, phương tiện khai thác và doanh thu nếu có, nhưng không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo của tác phẩm.

Như vậy, căn cứ để xác định mức sàn là tiền bản quyền sáng tạo của tác phẩm, không phải doanh thu từ việc khai thác tác phẩm.

Từ ngày Nghị định số 287 có hiệu lực, Nghị định số 18/2014/NĐ-CP về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác hết hiệu lực thi hành.

Không phải nộp lại giấy tờ đã tích hợp trên VNeID

Nghị định số 320/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 28.9.2026, quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, thực hiện giao dịch dân sự và các hoạt động khác phải khai thác danh tính điện tử, thông tin và giấy tờ đã được tích hợp trên VNeID.

Không phải nộp lại giấy tờ đã tích hợp trên VNeID

Không phải nộp lại giấy tờ đã tích hợp trên VNeID

Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận không được yêu cầu người dân, tổ chức nộp hoặc xuất trình bản chính, bản sao của những giấy tờ, tài liệu đã được tích hợp trên ứng dụng. Quy định này đặt trách nhiệm khai thác dữ liệu lên chủ thể tiếp nhận, giải quyết công việc.

Nghị định bổ sung danh mục 66 loại giấy tờ cấp cho cá nhân được tích hợp, cập nhật trên VNeID, trong đó có giấy khai sinh, hộ chiếu phổ thông, thị thực, giấy chứng nhận đăng ký phương tiện, giấy phép lái xe và giấy phép đầu tư.

Đối với cơ quan, tổ chức, danh mục tích hợp gồm 140 loại giấy tờ như giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu, giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất khẩu và giấy phép nhập khẩu.

Việc khai thác, sử dụng thông tin phải tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật đời sống riêng tư và bí mật gia đình. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc nhóm được khai thác thông tin theo chức năng, nhiệm vụ, khi khai thác giấy tờ của chủ thể khác phải được chủ thể thông tin đồng ý.

Cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không phép bị phạt đến 200 triệu đồng

Nghị định số 284/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1.9.2026, quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa trong thời gian Việt Nam triển khai thí điểm thị trường này.

Theo Nghị định, tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao. Khái niệm này không bao gồm chứng khoán, dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác.

Tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa bị phạt từ 180-200 triệu đồng.

Mức phạt này cũng được áp dụng đối với tổ chức quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép. Đối với cá nhân thực hiện cùng hành vi, mức phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức, tương ứng từ 90-100 triệu đồng.

Nghị định có hiệu lực đến ngày Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam hết hiệu lực thi hành.

Hỗ trợ người cứu nạn nhân tai nạn giao thông

Từ ngày 1.9.2026, Thông tư số 126/2026/TT-BCA quy định nguyên tắc, hồ sơ, trình tự và thủ tục thực hiện các nội dung chi từ Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ.

Mức hỗ trợ được thực hiện theo Nghị định số 279/2025/NĐ-CP. Theo đó, tổ chức trực tiếp giúp đỡ, cứu chữa hoặc đưa người bị tai nạn giao thông đường bộ đi cấp cứu được hỗ trợ tối đa 10 triệu đồng cho một vụ việc; mức hỗ trợ tối đa đối với cá nhân là 5 triệu đồng.

Đây là mức chi tối đa, không phải khoản tiền được chi trả mặc định trong mọi trường hợp. Mức hỗ trợ cụ thể được quyết định trên cơ sở hồ sơ, điều kiện thực tế và khả năng của Quỹ.

Thông tư quy định không chi hỗ trợ đối với người gây ra nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ. Trường hợp không thuộc đối tượng quy định tại Nghị định số 279/2025/NĐ-CP cũng không được hỗ trợ.

Tổ chức, cá nhân thuộc diện được hỗ trợ có thể nộp hồ sơ trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính. Cơ quan đầu mối có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ trong thời hạn hai ngày làm việc. Cơ quan chức năng cũng có trách nhiệm chủ động rà soát, phát hiện trường hợp đủ điều kiện để lập hồ sơ đề nghị chi hỗ trợ.

Thuốc lá điện tử thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất, nhập khẩu

Có hiệu lực từ ngày 5.9.2026, Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng thuộc cả danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu và danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu.

Căn cứ danh mục ban hành kèm theo Nghị định và các quy định hiện hành, bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm công bố chi tiết mặt hàng thuộc diện cấm kèm theo mã số hàng hóa. Quy định này tạo cơ sở để cơ quan hải quan và các lực lượng chức năng kiểm soát thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại khâu xuất khẩu, nhập khẩu.

Trường hợp thuộc diện được pháp luật cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cấm, thương nhân phải thực hiện thủ tục xin cấp phép. Hồ sơ gồm đơn đề nghị, tài liệu thuyết minh về kế hoạch sử dụng, quy trình quản lý hàng hóa và phương án xử lý sau khi sử dụng.

Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đúng quy định, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bị phạt đến 150 triệu đồng

Theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10.9.2026, người sử dụng lao động trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 75 triệu đồng nếu là cá nhân và đến 150 triệu đồng nếu là tổ chức.

Đối với người sử dụng lao động là cá nhân không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày, mức phạt được xác định theo số lao động bị vi phạm. Mức phạt từ 6-12 triệu đồng khi vi phạm dưới 10 người và từ 70-75 triệu đồng khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên. Mức phạt đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân.

Trường hợp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định hoặc không đóng, đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ thời hạn đóng, dù đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc, mức phạt đối với cá nhân bằng 18-20% tổng số tiền trốn đóng nhưng không quá 75 triệu đồng nếu hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với tổ chức thực hiện cùng hành vi, mức phạt bằng 36-40% tổng số tiền trốn đóng nhưng không quá 150 triệu đồng.

Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn phải đăng ký đầy đủ số người thuộc diện tham gia, đóng đủ số tiền đã trốn đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền, số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

HOÀNG HƯƠNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/phap-luat/nhung-chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-92026-260559.html