Nghĩ về không gian tăng trưởng mới

Từ DANAFF IV, chúng ta đặt ra một viễn cảnh xa hơn: Liệu chăng Đà Nẵng có thể từ chỗ có năng lực tổ chức những sự kiện văn hóa tiến tới hình thành một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ sức trở thành động lực tăng trưởng mới hay không?

Không gian văn hóa truyền thống góp phần bồi đắp tình yêu di sản cho thế hệ trẻ. Ảnh: HOÀI NAM

Không gian văn hóa truyền thống góp phần bồi đắp tình yêu di sản cho thế hệ trẻ. Ảnh: HOÀI NAM

Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV - DANAFF IV khép lại trong tháng Bảy, để lại một dấu ấn đáng chú ý trong đời sống văn hóa của thành phố.

Trong những ngày diễn ra liên hoan, thành phố trở thành một không gian kết nối, theo đó điện ảnh đã kéo theo hoạt động du lịch, lưu trú, truyền thông, quảng bá hình ảnh đô thị và giao lưu quốc tế.

Phía sau các tác phẩm điện ảnh là văn chương, kịch bản, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, công nghệ, tài chính, hệ thống phát hành và thị trường.

Từ hoạt động văn hóa đến một hệ thống tạo giá trị

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng đô thị thường dựa vào vốn đầu tư, đất đai, xây dựng, hạ tầng giao thông, sản xuất và các dịch vụ truyền thống. Những nguồn lực ấy vẫn quan trọng, nhưng ngày càng khó tạo ra lợi thế khác biệt.

Còn những nguồn lực khác vô hình nhưng đặc sắc, riêng biệt và hoàn toàn có thể trở thành một nguồn động lực tăng trưởng mạnh mẽ.

Nhìn từ góc độ sự dịch chuyển từ công nghiệp văn hóa sang kinh tế sáng tạo như một thay đổi trong cấu trúc tạo giá trị, trọng tâm không còn chỉ là từng ngành văn hóa riêng lẻ, mà là khả năng kết nối văn hóa, công nghệ, thị trường và sở hữu trí tuệ thành chuỗi.

Trong nền kinh tế ấy, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở vật liệu hay chi phí sản xuất, mà còn nằm trong ý tưởng, nội dung, thiết kế, câu chuyện, bản quyền, thương hiệu và trải nghiệm.

Một cuốn sách có thể trở thành phim. Một nhân vật lịch sử có thể đi vào hoạt hình và trò chơi. Một hoa văn truyền thống có thể được sử dụng trong thời trang, kiến trúc và thiết kế sản phẩm. Một di tích có thể tạo ra triển lãm số, học liệu, bản đồ tương tác và tuyến du lịch trải nghiệm.

Công nghiệp văn hóa xuất hiện khi những giá trị ấy được tổ chức thành hệ thống gồm nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, bảo vệ bản quyền, phân phối, truyền thông và tiêu dùng.

Tư duy chính sách về văn hóa đang chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang phát huy văn hóa như nguồn lực nội sinh, một bộ phận của nền kinh tế và nền tảng của sức mạnh mềm.

Văn hóa không chỉ cần ngân sách để duy trì hoạt động, mà cần được đầu tư để tạo sản phẩm, thị trường, việc làm và giá trị gia tăng.

Điều đó không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Hàng hóa và dịch vụ văn hóa chứa đựng ký ức, bản sắc và ý nghĩa xã hội nên không thể được đối xử hoàn toàn như hàng hóa thông thường.

Chính sách phải mở đường cho sáng tạo và kinh doanh, đồng thời bảo đảm tính xác thực, sự đa dạng văn hóa và quyền tiếp cận của cộng đồng.

Đà Nẵng sở hữu một không gian văn hóa đa dạng và đó không chỉ là danh mục địa điểm để tham quan. Mỗi di sản, cộng đồng hay tập quán đều có thể trở thành nguyên liệu cho nhiều chuỗi sản phẩm:

Hoa văn Chăm có thể đi vào sách mỹ thuật, thời trang và thiết kế nhận diện; một làng nghề có thể tạo ra sản phẩm thủ công, phim tài liệu, chương trình trải nghiệm, học liệu và câu chuyện thương hiệu; các di tích có thể được phát triển thành sách thiếu nhi, bản đồ số, phim hoạt hình hoặc triển lãm tương tác.

Tuy nhiên, tài nguyên không tự tạo ra giá trị. Giữa di sản và sản phẩm có khả năng đi vào thị trường là cả một chuỗi công việc: Khảo cứu, xác minh, biên tập, kể chuyện, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, truyền thông và phân phối.

Đà Nẵng có những điều kiện thuận lợi cho quá trình đó. Thị trường du lịch tạo ra nhu cầu ban đầu đối với sách ảnh, sản phẩm đa ngôn ngữ, quà tặng và trải nghiệm văn hóa.

Các trường đại học có thể cung cấp nguồn nghiên cứu và nhân lực trẻ. Nền tảng công nghệ hỗ trợ số hóa, sản xuất và phân phối nội dung. Chất lượng sống cũng giúp thành phố thu hút tác giả, nghệ sĩ, nhà thiết kế và kỹ sư sáng tạo.

Điểm yếu hiện nay là các nguồn lực ấy vẫn phân tán. Bảo tàng, thư viện, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, ngành du lịch và giới sáng tạo chưa được kết nối thành một chuỗi ổn định.

Đà Nẵng có nhiều hoạt động văn hóa nhưng chưa có một hệ thống đủ mạnh để liên tục chuyển ý tưởng thành sản phẩm và sản phẩm thành thị trường.

Những điểm nghẽn cần được tháo gỡ

Điểm nghẽn đầu tiên là cách quản lý chia cắt theo ngành. Trong khi một sản phẩm sáng tạo cần nhiều lĩnh vực cùng tham gia thì văn hóa, giáo dục, công nghệ, du lịch và thương mại vẫn thường vận hành theo những tuyến riêng.

Một trò chơi về Mỹ Sơn cần nhà nghiên cứu, biên kịch, họa sĩ, lập trình viên, doanh nghiệp đầu tư và cơ chế sử dụng dữ liệu di sản. Thiếu đầu mối điều phối, mỗi bên chỉ thực hiện được một phần việc.

Điểm nghẽn thứ hai là thiếu tài sản nội dung có chiều sâu. Xứ Quảng có nguồn lịch sử, văn hóa và con người phong phú, nhưng chưa có tương xứng những bộ sách lớn, cơ sở dữ liệu có cấu trúc, sản phẩm đa ngôn ngữ và thương hiệu nội dung có khả năng chuyển thể.

Các sự kiện, lễ hội có thể thu hút sự chú ý trong vài ngày, nhưng không thay thế được một bộ tư liệu dùng trong nhiều thập niên, một tủ sách lịch sử văn hóa địa phương chuẩn mực hay một bộ nhận diện về văn hóa được đầu tư thành thương hiệu.

Trải nghiệm rừng dừa nước Cẩm Thanh - một sản phẩm kết nối văn hóa bản địa với du lịch. Ảnh: HOÀI NAM

Trải nghiệm rừng dừa nước Cẩm Thanh - một sản phẩm kết nối văn hóa bản địa với du lịch. Ảnh: HOÀI NAM

Điểm nghẽn tiếp theo là hạ tầng tri thức chưa được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng đô thị.

Ngoài đường sá, sân bay, cảng biển và mạng viễn thông, kinh tế sáng tạo còn cần thư viện, trung tâm nghiên cứu, kho dữ liệu, studio, không gian đọc, mạng lưới tác giả, biên tập viên và cơ chế bản quyền. Đó là hệ thống giúp tri thức được tạo ra, lưu chuyển và chuyển thành giá trị.

Cuối cùng là nhân lực. Người làm văn hóa có thể thiếu kỹ năng công nghệ và kinh doanh; người làm công nghệ lại thiếu nền tảng lịch sử, mỹ thuật và xã hội.

Công nghiệp văn hóa đòi hỏi những người có khả năng làm việc liên ngành, hiểu nội dung, sử dụng công nghệ và tổ chức sản phẩm cho thị trường.

6 sáng kiến gợi mở

Trước hết, Đà Nẵng cần một chương trình phát triển tri thức và xuất bản miền Trung. “Tủ sách Đà Nẵng - Xứ Quảng” nên được xây dựng thành hệ thống gồm công trình nghiên cứu, sách phổ thông, sách thiếu nhi, sách ảnh, sách song ngữ và học liệu địa phương.

Thành phố cần kết nối trường đại học, tác giả, dịch giả, nhà xuất bản và doanh nghiệp nội dung số để phát triển bản thảo, giao dịch bản quyền và chuyển đổi nội dung sang nhiều định dạng.

Thứ hai, cần xây dựng ngân hàng dữ liệu văn hóa số. Số hóa không thể chỉ là chụp ảnh và lưu trong máy chủ. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, chú giải, phân loại và quy định rõ quyền khai thác.

Một phần phục vụ bảo tồn; một phần mở cho nghiên cứu và giáo dục; phần còn lại có thể cấp phép cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm. Cơ chế ghi nguồn, trả phí và chia sẻ lợi ích phải minh bạch, nhất là đối với dữ liệu gắn với cộng đồng và di sản.

Thứ ba, thành phố cần phát triển mạng lưới không gian đọc, học tập và sáng tạo. Bên cạnh các thiết chế lớn, cần có trạm đọc tại khu dân cư, không gian sách ở điểm du lịch, thư viện mở, studio dùng chung và trung tâm khoa học, nghệ thuật dành cho thanh thiếu niên.

Thứ tư, Đà Nẵng nên thành lập các Hub sáng tạo liên ngành. Đây phải là những không gian nơi nhà nghiên cứu, tác giả, nghệ nhân, nhà làm phim, nhà thiết kế, kỹ sư công nghệ, doanh nghiệp du lịch, nhà xuất bản và nhà đầu tư có thể thường xuyên gặp gỡ, trao đổi thông tin và cùng phát triển dự án.

Nhiều ý tưởng mới không xuất hiện bên trong một ngành riêng lẻ, mà ở điểm giao nhau giữa những lĩnh vực khác nhau. Một nhà nghiên cứu lịch sử có thể cung cấp chất liệu cho nhà làm phim; một nghệ nhân có thể hợp tác với nhà thiết kế; một bảo tàng có thể làm việc với lập trình viên; một nhà xuất bản có thể kết nối với doanh nghiệp công nghệ để phát triển sách tương tác và học liệu số.

Các Hub này không nên chỉ là nơi cho thuê chỗ làm việc hoặc tổ chức hội thảo. Mỗi Hub cần có đội ngũ điều phối, chương trình ươm tạo, cố vấn về bản quyền và mô hình kinh doanh, phòng thử nghiệm sản phẩm, hoạt động kết nối cộng sự và cơ chế tiếp cận dữ liệu.

Trường đại học, thư viện, bảo tàng, khu công nghệ hoặc những công trình công cộng đang được khai thác chưa hiệu quả có thể được lựa chọn để thí điểm.

Giá trị của Hub không nằm ở diện tích hay trang thiết bị, mà ở mật độ kết nối giữa con người. Khi những người vốn ít có cơ hội làm việc cùng nhau được đặt trong một môi trường chung, thông tin lưu chuyển nhanh hơn, khoảng cách giữa ý tưởng và thực thi được rút ngắn.

Thứ năm, cần xây dựng quỹ sáng tạo và cơ chế đặt hàng. Quỹ có thể cung cấp vốn mồi cho sách, phim tài liệu, hoạt hình, podcast, trò chơi, bản đồ văn hóa, triển lãm số và học liệu.

Chính quyền không sản xuất thay doanh nghiệp, nhưng có thể trở thành khách hàng đầu tiên của những sản phẩm phục vụ lợi ích công cộng, như bộ học liệu lịch sử địa phương, ứng dụng kể chuyện di sản hoặc nội dung đa ngôn ngữ dành cho du khách.

Thứ sáu, Đà Nẵng cần đào tạo và thu hút chủ thể sáng tạo. Trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý có thể cùng xây dựng các chương trình về biên tập, xuất bản số, quản trị bản quyền, thiết kế, điện ảnh, trò chơi, kinh doanh nội dung và ứng dụng AI.

Thành phố cũng có thể tổ chức chương trình lưu trú cho tác giả, nghệ sĩ, kiến trúc sư và nhà nghiên cứu, cung cấp không gian làm việc, dữ liệu và cơ hội thực hiện dự án.

Việc phát triển công nghiệp văn hóa hiện đã có những nền tảng chính sách quan trọng, từ Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Luật Điện ảnh và nghị định hướng dẫn, đến khung pháp lý mới về quyền tác giả và di sản văn hóa.

Cùng với cơ chế đặc thù dành cho Đà Nẵng, vấn đề hiện nay không còn chỉ là có chủ trương hay không, mà là thành phố sẽ chuyển các chủ trương đó thành chương trình, thiết chế, doanh nghiệp và sản phẩm cụ thể như thế nào.

TRẦN HOÀI PHƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nghi-ve-khong-gian-tang-truong-moi-3346907.html