Ngẫm từ hai chữ 'cầm ca'

Cầm ca là đàn và hát. Kiếp cầm ca là số phận của những người theo nghiệp đàn hát.

 Một trong những áng văn chương sớm và nổi tiếng gắn với ý niệm này là bài thơ Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị (772 - 846), nhà thơ nổi tiếng đời Đường, Trung Quốc. Trong đó, người ca nữ từng nổi danh một thời, khi về già gửi tâm sự của mình vào cảnh sông nước vắng lặng: Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách/ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu. Chừng như từ Bạch Cư Dị, ý niệm về “kiếp cầm ca” được nhiều người đời sau mượn lại để sáng tác. Kiếp là số phận.

Có người còn gọi là “duyên kiếp”, nghĩa là những điều tự thân con người nhiều khi không thể định đoạt. Trong đời, có những người đàn hay, hát giỏi, vừa tuyệt sắc vừa tuyệt tài, từng thu hút biết bao người hâm mộ. Nhưng rồi thời xuân sắc cũng qua, người hâm mộ cũng thưa dần, chỉ còn tiếng đàn, tiếng hát với chính mình trong nỗi đơn côi.

Nguyễn Du có bài Long thành cầm giả ca kể về một người gảy đàn ở thành Thăng Long, tiếng đàn từng khiến những người dự tiệc say mê. Hai mươi năm sau, tác giả có dịp gặp lại, người chơi đàn thuở nào đã tiều tụy đến mức gần như không còn nhận ra. “Hồng nhan bạc mệnh”, “tài hoa bạc mệnh” cũng là một mạch cảm thức quen thuộc trong sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt ở Truyện Kiều.

Trong xã hội phong kiến, có thời kỳ người ta lưu truyền quan niệm “xướng ca vô loại”, theo đó những người chuyên nghề ca hát bị xem nhẹ trong trật tự xã hội. Con cái nhà xướng ca từng chịu nhiều thiệt thòi, có khi không được dự thi, không có đường tiến thân bằng khoa cử.

Đào Duy Từ ở Đàng Ngoài, về sau trở thành một nhân vật xuất sắc giúp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, thường được nhắc đến như một trường hợp điển hình. Nhưng đó là thái độ của xã hội và người cầm quyền đối với nghề xướng ca, còn ý niệm về “kiếp cầm ca” dường như mang một sắc thái khác: Nỗi cảm thương trước sự mong manh của tài sắc và kiếp người.

Ở miền Nam trước năm 1975 có bản nhạc mang tên Kiếp cầm ca, bắt đầu bằng nỗi băn khoăn về duyên phận. Khi bài hát được soạn theo thể tân cổ giao duyên, ý niệm của người xưa về “kiếp cầm ca” tiếp tục được phát triển qua hình ảnh người nghệ sĩ sân khấu.

Thực ra, “kiếp cầm ca” cũng là kiếp người nói chung. Ai rồi cũng phải đi qua tuổi trẻ, tuổi già, thịnh suy, được mất. Nhưng bởi thanh và sắc của người cầm ca thường được xem như những biểu tượng đẹp đẽ, tinh hoa trong đời, nên khi chúng phai tàn, người ta càng dễ tiếc nuối.

Chính vì thế, thân phận người nghệ sĩ thường được bi thương hóa, thi vị hóa và truyền tụng qua nhiều thế hệ. Đến thời nay, dường như ý niệm “kiếp cầm ca” đã nhạt đi ít nhiều, thay vào đó là sự đề cao tài năng, sắc đẹp, danh tiếng và cả sự giàu có của giới nghệ thuật biểu diễn.

Thực ra, từ thời Bạch Cư Dị viết Tỳ bà hành, người ca nữ trong bài thơ cũng từng có một thời xuân sắc “huy hoàng”, vàng bạc, gấm vóc người đời đem đến không thiếu. Vì vậy, chuyện người nghệ sĩ có của cải không phải đến thời nay mới xuất hiện. Khác biệt có lẽ nằm ở cách xã hội nhìn nhận nghề nghiệp.

Xưa kia, đờn ca nhiều lúc chưa được coi như một nghề bình đẳng với những nghề khác. Người nghệ sĩ có thể được say mê trên sân khấu nhưng địa vị xã hội lại thấp. Còn ngày nay, nghệ thuật biểu diễn được nhìn nhận như một nghề danh giá, nhiều người có thu nhập rất cao, được đông đảo công chúng ngưỡng mộ.

Khi có danh tiếng, tiền bạc và sự tung hô, con người đôi khi dễ tự huyễn hoặc mình, từ đó có những cách ứng xử khiến xã hội thấy phản cảm. Nếu người nghệ sĩ xưa từng tự ti về thân phận thì người nghệ sĩ hôm nay lại có thể đứng trước nguy cơ tự tôn quá mức.

Suy cho cùng, tự ti hay tự tôn quá đáng đều có thể dẫn đến những điều không hay. Có lẽ, câu chuyện về “kiếp cầm ca” vẫn còn ý nghĩa ở chỗ nhắc con người nhớ rằng tài năng, sắc đẹp, tiền bạc hay danh tiếng rồi cũng chịu sự thử thách của thời gian. Điều đáng quý sau cùng vẫn là cách mỗi người sống với nghề, với người khác và với chính mình. 

MINH TUỆ

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/nghe-thuat/ngam-tu-hai-chu-cam-ca-257252.html