Nét thu vàng xứ Lạng
Mùa thu xứ Lạng dường như không chỉ đến bằng cái se lạnh của buổi sớm, bằng làn sương bảng lảng trên những triền núi, mà còn đến bằng một sắc màu rất riêng - sắc vàng. Đó là cái vàng của nắng trải trên những mái nhà, của những chiếc lá đang lặng lẽ rời cành, hay của những bông cúc ven đường, vạt hoa dại nép mình bên triền đá. Và đâu đó, giữa núi rừng biên cương, sắc vàng còn ánh lên từ những vườn hồng đang mùa chín rộ, những chùm quả trĩu cành như gom cả nắng thu vào trong từng quả ngọt.
Ở xứ Lạng, nhắc đến mùa thu, người ta khó lòng bỏ qua thứ quả là hồng vành khuyên và hồng Bảo Lâm được trồng tập trung ở vùng Văn Lãng, Cao Lộc. Những thức quả đã trở thành một phần trong ký ức và đời sống của người dân nơi đây. Khi những quả hồng chuyển từ màu xanh sang vàng, những vườn hồng cũng như được thắp lên giữa núi rừng một thứ ánh sáng ấm áp. Có lẽ, trong rất nhiều sắc vàng của mùa thu, màu vàng của quả hồng là thứ khiến người ta dễ rung động nhất. Bởi đó không chỉ là màu của thiên nhiên, mà còn là màu của công sức, niềm vui và hy vọng. Để có được những quả hồng vàng trên cành, người trồng đã đi qua cả một mùa chăm bón với bao ngày mưa nắng, bao lần vun gốc, tỉa cành và chờ đợi. Đến mùa thu, khi quả hồng chín, màu vàng ấy giống như một lời đáp của đất trời dành cho người lao động. Nhìn những chùm hồng vàng sai trĩu, tôi thường nghĩ đến hai chữ ấm no.
Màu vàng vốn gợi cho người ta nhiều liên tưởng. Đó là màu của ánh nắng, sự ấm áp. Trong tâm thức người Việt, màu vàng tượng trưng cho quyền uy, phú quý và thịnh vượng, đại diện cho những điều tốt lành, cao quý. Với người trồng hồng nơi xứ Lạng, màu vàng trên cây có lẽ giản dị hơn. Đó là màu của một vụ quả được mùa, tăng thu nhập, giúp căn bếp thêm ấm, trẻ nhỏ thêm đủ đầy sách vở và quần áo mới đến trường. Bởi thế, mỗi quả hồng vàng không chỉ là một thức quà của mùa thu mà nó còn mang trong mình câu chuyện của một gia đình, một mảnh vườn và công sức cả một mùa lao động.
Hồng vành khuyên, hồng Bảo Lâm cũng có cái duyên riêng khi thưởng thức. Qua bàn tay người trồng và sơ chế, những quả hồng ngâm đạt độ vừa tới, khi gọt lớp vỏ mỏng, phần thịt quả hiện ra vàng trong, căng mọng. Cắn một miếng, vị ngọt thanh mát lan nhẹ trong miệng, khiến người thưởng thức có cảm giác khoan khoái. Cái ngon của hồng đến chậm, vừa đủ để người ta nhận ra vị ngọt của quả và rồi bất giác muốn thưởng thức thêm một miếng nữa.
Ăn một miếng hồng giữa chiều thu, người ta không chỉ thưởng thức vị ngon của một loại quả mà như đang nếm cả mùa thu với nắng vàng còn vương trên lá, mùi đất sau những tháng ngày chăm bón và niềm vui của người trồng khi nhìn thành quả lao động của mình là những sọt quả căng đầy. Màu vàng của mùa thu xứ Lạng vì thế không chỉ nằm ngoài cảnh vật mà còn nằm trong tâm tưởng của con người. Đó là màu vàng của mong ước về một cuộc sống đủ đầy, về những ngày bình yên sau bao nhọc nhằn vất vả. Sắc vàng ấy cũng gợi lên một niềm tin bền bỉ: đất đai rồi sẽ trả công cho người biết cần cù, quê hương rồi sẽ đổi thay từ chính bàn tay của những người đang ngày ngày gắn bó với đất.
Có lẽ vì thế mà mùa thu xứ Lạng đẹp theo một cách rất riêng. Không chỉ đẹp bởi núi non, mây trời, những con đường bảng lảng sương sớm mà còn đẹp bởi màu vàng của sự sống đang vào độ viên mãn. Từ sắc vàng của hoa, của lá đến sắc vàng của những chùm hồng Bảo Lâm, hồng vành khuyên, tất cả như hòa thành một gam màu ấm áp phủ lên miền biên viễn. Giữa màu vàng ấy, người ta có thể nhìn thấy một mùa thu đang chín. Chín trong những quả hồng thanh ngọt, trong niềm vui của người trồng hồng sau một mùa bội thu và chín trong những ước vọng về cuộc sống đủ đầy. Để rồi, khi gọt một quả hồng vàng, cắt thành từng miếng nhỏ và chậm rãi thưởng thức, ta không chỉ cảm nhận vị ngọt nơi đầu lưỡi, mà còn như chạm vào một thứ “màu vàng” của niềm tin và hy vọng về quê hương đang từng ngày đổi mới. Ấy là nét thu vàng xứ Lạng - một nét thu mang màu của nắng, của hoa lá và quả chín cùng những ước mong bình dị mà bền bỉ trong lòng người.
