Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên 540.000 đồng/tháng

Quy định mới của Chính phủ đã tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7/2026 lên 540.000 đồng/tháng. Trước đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2024 theo quy định cũ là 500.000 đồng/tháng.

Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam trao học bổng cho 36 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng, tháng 8/2026. (Ảnh NFVC)

Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam trao học bổng cho 36 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng, tháng 8/2026. (Ảnh NFVC)

Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, với các quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Theo đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).

Mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).

Trường hợp điều kiện kinh tế-xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này; Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.

Nghị định nêu rõ, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.

Tám nhóm đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Tại Điều 5 của Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm:

Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;

c) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

đ) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

k) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ hai, người thuộc diện quy định tại khoản 1 nêu trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

Thứ ba, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

Thứ tư, người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản này, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.

Thứ năm, người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

b) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Thứ sáu, người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

Thứ bảy, trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 3 và khoản 6 nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

Thứ tám, người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Mức trợ cấp xã hội hằng tháng

Nghị định cũng nêu rõ, đối tượng quy định tại Điều 5 nêu trên được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi; hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên.

b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 nêu trên.

c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 4 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi.

d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.

đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 75 tuổi trở lên; hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 5.

e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng; hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.

g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 5 nêu trên.

Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau quy định về chế độ trợ giúp xã hội thì chỉ được hưởng một mức cao nhất.

Riêng người đơn thân nghèo nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này.

Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này đang học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được hưởng chính sách, chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026.

Đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội thì được chuyển sang mức tương ứng quy định tại Nghị định này từ ngày 1/7/2026.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.

Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội tổ chức thực hiện chế độ, chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng theo mức quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.

Trước đó, thông tin về kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, Bộ Y tế cho biết, thực hiện Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 176/2024/NĐ-CP, năm 2025, cả nước thực hiện trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng cho khoảng 4,5 triệu người (tăng khoảng 1,6 triệu người so với năm 2024), trong đó có 2 triệu người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng và 2,5 triệu người cao tuổi hưởng chế độ trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng.

Tổng ngân sách thực hiện là 45.000 tỷ đồng/năm. Hiện 97% tỉnh, thành phố thực hiện chi trả thông qua đơn vị dịch vụ chi trả, 100% địa phương đã triển khai chi trả không dùng tiền mặt, 2,4 triệu đối tượng nhận tiền bằng tài khoản ngân hàng.

Thời gian qua, đã có 16 địa phương quy định mở rộng đối tượng thụ hưởng và 5 tỉnh, thành phố nâng mức hỗ trợ cao hơn mức quy định tại Nghị định số 76/2024/NĐ-CP và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP. Cụ thể như: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (650.000 đồng/tháng), Hải Phòng và Ninh (700.000 đồng/tháng), Tuyên Quang (530.000 đồng/tháng). Việc nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức chuẩn trợ cấp hưu trí xã hội và mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách đã từng bước đáp ứng được nhu cầu trợ giúp xã hội của một bộ phận dân cư có hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội còn thấp. Hiện nay, mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội theo quy định tại các Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, Nghị định số 176/2025/NĐ-CP, Nghị định số 76/2024/NĐ-CP vẫn còn thấp, chưa bảo đảm mức sống tối thiểu, chưa bảo đảm mối quan hệ tương quan với các chính sách bảo hiểm xã hội, giảm nghèo hay ưu đãi người có công. Theo tính toán, mức chuẩn 500.000 đồng/tháng hiện chỉ bằng 22,7% chuẩn nghèo nông thôn và 17,8% chuẩn nghèo đô thị theo quy định mới.

NGÂN LÊ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/muc-chuan-tro-giup-xa-hoi-tang-len-540000-dongthang-post983587.html