'Mỏ vàng' chưa khai phá của y học cổ truyền Việt Nam
Y học cổ truyền chỉ thực sự tạo ra giá trị khi di sản được chuyển hóa thành tri thức, sản phẩm và mô hình chăm sóc sức khỏe phục vụ xã hội.
Y học cổ truyền chỉ thực sự tạo ra giá trị khi di sản được chuyển hóa thành tri thức, sản phẩm và mô hình chăm sóc sức khỏe phục vụ xã hội.

Di sản y học cổ truyền được kỳ vọng không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực góp phần phát triển nền y tế và kinh tế quốc gia. Ảnh: Hoài Bảo.

Nguyễn Thị Bay
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ
Là chuyên gia đầu ngành về Y học cổ truyền và kết hợp Đông - Tây y tại Việt Nam. Bà là chủ Chủ tịch Hội Đông Tây y kết hợp TP.HCM; Chủ tịch Hội đồng Khoa học Đào tạo Khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP.HCM; Cố vấn Trường Đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM; Cố vấn Ban Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM; Cố vấn về Y học cổ truyền Bệnh viện Ung bướu TP.HCM.
Y học cổ truyền Việt Nam đang sở hữu một kho tàng tri thức tích lũy qua hàng nghìn năm. Nhưng kho tàng ấy chỉ trở thành nguồn lực khi được chuyển hóa thành giá trị cụ thể.
Từ y tế, kinh tế đến văn hóa, đây chính là cơ hội để y học cổ truyền khẳng định vai trò như một động lực phát triển quốc gia, nếu được nhìn nhận đúng, chuẩn hóa bài bản và tích hợp có chiến lược.
Giá trị y tế: Lấp đúng khoảng trống của y học hiện đại
Trong thế kỷ XXI, chiến lược điều trị của y học đang hướng tới cá thể hóa, toàn diện hóa và nâng cao chất lượng sống. Đồng thời, mô hình bệnh tật cũng đang chuyển mạnh sang bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm, các rối loạn liên quan đến lối sống, stress, lão hóa dân số và suy giảm chức năng. Đây chính là những lĩnh vực mà y học cổ truyền có thể đóng góp nhiều nhất.
Y học cổ truyền không nên được đặt trong thế đối lập với y học hiện đại. Mục tiêu không phải là thay thế y học hiện đại, mà là phối hợp cùng y học hiện đại để chăm sóc và điều trị tốt nhất cho người bệnh.

Y học cổ truyền và y học hiện đại có thể bổ trợ cho nhau, hướng đến mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị người bệnh. Ảnh: Hoài Bảo.
Y học hiện đại có ưu thế rất rõ trong cấp cứu, phẫu thuật, hồi sức, điều trị nhiễm khuẩn nặng, can thiệp tim mạch, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, kiểm soát bệnh lý cấp tính và nhiều lĩnh vực chuyên sâu.
Trong khi đó, y học cổ truyền có thế mạnh trong điều hòa chức năng, hỗ trợ phục hồi, quản lý bệnh mạn tính, cải thiện triệu chứng kéo dài, chăm sóc người cao tuổi, nâng cao thể trạng, cải thiện ăn ngủ, tiêu hóa, đau mỏi, tinh thần và chất lượng sống.
Ngoài thuốc từ dược liệu, y học cổ truyền còn có nhiều phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, dưỡng sinh, khí công, dinh dưỡng trị liệu, điều chỉnh sinh hoạt và tư vấn lối sống. Đây là những phương pháp có thể tham gia vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, phục hồi chức năng, phòng bệnh và hỗ trợ điều trị.

Y học cổ truyền có thế mạnh trong hỗ trợ phục hồi chức năng, quản lý bệnh mạn tính và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Ảnh: Trần Hiền.
Đặc biệt, trong bối cảnh dân số già hóa, nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi sẽ ngày càng tăng. Người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh cùng lúc, dễ suy giảm chức năng, dễ rối loạn giấc ngủ, tiêu hóa, đau mỏi, suy nhược và giảm chất lượng sống.
Nếu được tích hợp hợp lý, y học cổ truyền có thể góp phần quan trọng trong chăm sóc người cao tuổi, giảm gánh nặng bệnh tật, hỗ trợ phục hồi chức năng và duy trì khả năng sống độc lập.
Tuy nhiên, để giá trị y tế của y học cổ truyền được phát huy, cần xây dựng các mô hình phối hợp cụ thể. Không thể chỉ nói chung chung rằng cần kết hợp Đông - Tây y.

Y học cổ truyền và y học hiện đại cần có tiêu chí rõ ràng về bệnh, thời điểm, phương pháp phối hợp, hiệu quả, an toàn và trách nhiệm chuyên môn. Ảnh: Hoài Bảo.
Cần xác định rõ bệnh nào nên phối hợp, giai đoạn nào nên phối hợp, phương pháp nào phù hợp, tiêu chí đánh giá hiệu quả là gì, giới hạn an toàn ở đâu và trách nhiệm chuyên môn giữa các bên như thế nào.
Chỉ khi có mô hình tích hợp rõ ràng, y học cổ truyền mới có thể trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống y tế quốc gia, thay vì chỉ tồn tại như một khu vực riêng biệt hoặc phụ trợ.
Giá trị kinh tế: “Mỏ vàng” chưa được khai thác hết
Mỗi giá trị cốt lõi của y học cổ truyền đều có thể trở thành “mỏ vàng” cho nguồn lực y tế và kinh tế quốc gia.
Nhưng khi nói đến kinh tế y học cổ truyền, người ta dễ liên tưởng trước hết đến dược liệu. Và đúng là dược liệu có thể xem là một “mỏ vàng” thực sự nếu được tổ chức, chuẩn hóa và phát triển đúng hướng.
Bản chất của dược liệu là nguồn nguyên liệu tự nhiên chứa nhiều hoạt chất có tác dụng sinh học. Từ dược liệu có thể chiết xuất hoạt chất, bào chế thuốc, sản xuất thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, trà dược liệu, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, mỹ phẩm thảo dược và nhiều sản phẩm có giá trị khác.

Từ nguồn dược liệu, nhiều sản phẩm có thể được phát triển, từ thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu đến thực phẩm bảo vệ sức khỏe, trà dược liệu, mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Ảnh: Hoài Bảo.
Hơn thế nữa, các bài thuốc cổ phương hoặc kinh nghiệm được lưu truyền qua nhiều đời thường được cấu thành từ nhiều vị dược liệu phối hợp với nhau.
Giá trị của bài thuốc không chỉ nằm ở từng vị thuốc riêng lẻ, mà còn nằm ở cách phối ngũ, cách gia giảm, cách bào chế, cách sử dụng theo thể bệnh và kinh nghiệm lâm sàng đi kèm. Đây là loại sản phẩm tri thức không phải ở đâu cũng có.
Trong nhiều bệnh mạn tính, quá trình điều trị thường kéo dài, người bệnh cần được chăm sóc toàn diện, cần cải thiện triệu chứng, nâng cao thể trạng và chất lượng sống.
Chính trong những tình huống đó, sự tích hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền có thể tạo ra giá trị y tế và kinh tế đáng kể.

Chuẩn hóa dược liệu từ khâu nhận diện, nguồn gốc, thu hái đến sơ chế là một trong những thách thức quan trọng để bảo đảm chất lượng và phát huy giá trị dược liệu Việt Nam. Ảnh: Hoài Bảo.
Nước ta có nguồn dược liệu phong phú, thảm thực vật đa dạng và nhiều kinh nghiệm dân gian trong xử lý một số vấn đề sức khỏe ban đầu.
Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề lớn cần giải quyết như dược liệu không rõ nguồn gốc, chất lượng không ổn định, nguy cơ pha trộn, nhầm lẫn, tồn dư hóa chất, khai thác tự phát, thiếu vùng trồng chuẩn hóa, thiếu công nghệ chế biến sau thu hoạch và thiếu hệ thống kiểm soát chất lượng đồng bộ.
Việc chuẩn hóa dược liệu - đảm bảo sạch, đúng loài, rõ nguồn gốc, đúng bộ phận dùng, đúng thời điểm thu hái, đúng phương pháp sơ chế, không lẫn tạp chất, không có “rác dược liệu”...vẫn là một thách thức lớn.
Bên cạnh đó, công nghệ bào chế cũng rất quan trọng. Một dược liệu tốt nhưng bào chế không đúng có thể làm giảm hiệu quả, tăng độc tính hoặc không tạo ra sản phẩm tiện dụng cho người bệnh.
Vì vậy, phát triển kinh tế y học cổ truyền không thể chỉ dừng ở khai thác dược liệu thô.

Chuẩn hóa toàn bộ chuỗi giá trị dược liệu, từ giống, canh tác, thu hái, bào chế, kiểm nghiệm đến phát triển sản phẩm, đăng ký lưu hành và xây dựng thương hiệu. Ảnh: Hoài Bảo.
Cần phát triển toàn bộ chuỗi giá trị gồm bảo tồn nguồn gene, quy hoạch vùng trồng, chuẩn hóa giống, chuẩn hóa canh tác, thu hái, sơ chế, bảo quản, bào chế, kiểm nghiệm, nghiên cứu tác dụng, phát triển sản phẩm, đăng ký lưu hành, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Nhiều quốc gia đã biến y học truyền thống thành ngành công nghiệp có giá trị lớn. Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng tương tự.
Nhưng tiềm năng chỉ trở thành nguồn lực khi có chiến lược, tiêu chuẩn, công nghệ, quản lý và thương hiệu. Nếu không, dược liệu Việt Nam sẽ mãi chỉ là nguyên liệu thô, trong khi giá trị gia tăng cao lại thuộc về nơi khác.
Từ cây cỏ quanh nhà đến thương hiệu quốc gia
Nguồn dược liệu Việt Nam không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn là một phần của bản sắc y học bản địa.
Từ lâu, người Việt đã biết sử dụng cây cỏ quanh mình để chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh và điều trị những chứng bệnh thông thường. Những kinh nghiệm ấy hình thành qua đời sống, qua môi trường tự nhiên, qua khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán sinh hoạt của từng vùng miền.

Sâm Ngọc Linh là một trong những dược liệu quý của Việt Nam, có tiềm năng phát triển thành các sản phẩm chăm sóc sức khỏe mang thương hiệu quốc gia. Ảnh: Thanh Đức.
Đây là cơ sở để phát triển các sản phẩm bản địa mang thương hiệu Việt Nam.
Không chỉ là thuốc điều trị, mà còn có thể là các sản phẩm chăm sóc sức khỏe hàng ngày như trà thảo dược, nước mát, sản phẩm giải khát, sản phẩm tiêu độc, sản phẩm bổ dưỡng, sản phẩm hỗ trợ tiêu hóa, sản phẩm chăm sóc người cao tuổi, sản phẩm dưỡng sinh và các sản phẩm phục vụ du lịch sức khỏe.
Tuy nhiên, để các sản phẩm này có giá trị lâu dài, cần tránh tình trạng thương mại hóa dễ dãi. Không phải sản phẩm nào gắn nhãn “thảo dược”, “thiên nhiên”, “gia truyền” cũng có giá trị y học.
Sản phẩm bản địa muốn phát triển bền vững phải có tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm an toàn, bằng chứng sử dụng hợp lý, thiết kế hiện đại, truy xuất nguồn gốc và câu chuyện thương hiệu đáng tin cậy.
Đặc biệt, cần bảo vệ tri thức bản địa và quyền lợi của cộng đồng đã lưu giữ tri thức đó. Nếu không, tri thức dân gian có thể bị khai thác một chiều, bị thương mại hóa mà không đem lại lợi ích tương xứng cho người dân và địa phương.
“Sức mạnh mềm mang tên thương hiệu” bị bỏ quên
Đây là một giá trị rất lớn nhưng y học cổ truyền Việt Nam chưa khai thác đủ.
Thế giới biết đến Yoga của Ấn Độ, Kampo của Nhật Bản, Traditional Chinese Medicine của Trung Quốc. Nhưng rất ít người biết đến một cách đầy đủ và có hệ thống về nền y học cổ truyền Việt Nam. Đây là một thiệt thòi, nhưng cũng là một cơ hội.

Trung y là một trong những nền y học cổ truyền có ảnh hưởng lớn trên thế giới, với hệ thống lý luận, phương pháp điều trị và dược liệu được phát triển qua hàng nghìn năm. Ảnh: Magnific.
Việt Nam không chỉ có thảm thực vật phong phú, tiềm ẩn nhiều cây thuốc có giá trị trong dân gian, mà còn có tư tưởng Nam dược của Tuệ Tĩnh, tư tưởng y đức của Hải Thượng Lãn Ông, kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe cộng đồng, văn hóa ăn uống theo mùa, sử dụng cây cỏ quanh nhà, các phương pháp dưỡng sinh và nhiều tri thức bản địa gắn với đời sống người Việt.
Những giá trị này hoàn toàn có thể trở thành thành tố của thương hiệu quốc gia.
Y học cổ truyền Việt Nam không chỉ là phương pháp chữa bệnh, mà còn là một phần của văn hóa sống, văn hóa chăm sóc sức khỏe, văn hóa ứng xử với thiên nhiên và triết lý nhân văn của dân tộc.
Hơn thế nữa, chúng ta hoàn toàn có thể tổ chức và phát triển các bảo tàng, trung tâm trải nghiệm hoặc không gian văn hóa y học cổ truyền.
Đó có thể trở thành nơi giới thiệu với người Việt Nam và bạn bè quốc tế về lịch sử, giá trị và sự phát triển của y học cổ truyền Việt Nam: từ cây cỏ, thảo mộc và khoáng chất dùng làm thuốc; các dụng cụ, kỹ thuật chế biến, bào chế dược liệu; đến những kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe, dưỡng sinh được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Những tờ quảng cáo thuốc xưa không chỉ lưu dấu sản phẩm mà còn là tư liệu phản ánh lịch sử, ngôn ngữ và quan niệm chăm sóc sức khỏe của người Việt qua từng thời kỳ. Ảnh: Bảo tàng YHCT.
Không chỉ tái hiện hành trình hàng nghìn năm của các phương pháp tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe người Việt, nơi đây còn có thể giới thiệu quá trình chuyển hóa những giá trị truyền thống thành các sản phẩm y dược hiện đại mang thương hiệu Việt Nam.
Trong không gian đó, người dân và du khách có thể hiểu rằng y học cổ truyền Việt Nam không phải là những gì cũ kỹ, lạc hậu, mà là một kho tàng tri thức sống động.
Từ đó có thể phát triển các sản phẩm như nước mát, trà thảo dược, sản phẩm giải khát, sản phẩm tiêu độc, sản phẩm bổ dưỡng, dược phẩm từ dược liệu, dịch vụ dưỡng sinh, du lịch chăm sóc sức khỏe và các mô hình trải nghiệm văn hóa - y học.

Từ nguồn dược liệu bản địa có thể phát triển đa dạng sản phẩm và dịch vụ, từ trà thảo dược, dược phẩm đến dưỡng sinh, du lịch chăm sóc sức khỏe và trải nghiệm văn hóa y học. Ảnh: Hoài Bảo.
Đây chính là sức mạnh mềm. Và nếu được tổ chức, quản lý, truyền thông và chuẩn hóa tốt, sức mạnh mềm này cũng là một “mỏ vàng” không nhỏ cho quốc gia.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sức mạnh mềm không thể được xây dựng chỉ bằng niềm tự hào.
Nó cần câu chuyện rõ ràng, sản phẩm cụ thể, bằng chứng đáng tin cậy, tiêu chuẩn chất lượng và cách trình bày hiện đại. Nếu không, y học cổ truyền Việt Nam sẽ khó bước ra thế giới, dù bản thân nó có nhiều giá trị.
Không chỉ là bài thuốc: Y học cổ truyền là một hệ sinh thái tri thức
Từ những giá trị cốt lõi nêu trên, có thể nhận định rằng:
Nguồn lực lớn nhất của y học cổ truyền Việt Nam không phải chỉ là những thang thuốc cổ hay những cây dược liệu quý, mà là kho tàng tri thức y học được tích lũy qua nhiều thế kỷ.
Trong kỷ nguyên khoa học dữ liệu, sinh học hệ thống và y học tích hợp, chính kho tàng tri thức này có thể trở thành nguồn lực chiến lược để tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới và mô hình chăm sóc sức khỏe mới cho quốc gia.

Kho tàng tri thức y học cổ truyền có thể trở thành nguồn lực chiến lược, góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm và mô hình chăm sóc sức khỏe mới cho quốc gia. Ảnh: Hoài Bảo.
Nhận định này rất quan trọng vì nó giúp thay đổi cách nhìn về y học cổ truyền.
Nếu chỉ nhìn y học cổ truyền như một tập hợp các bài thuốc và cây thuốc, chúng ta sẽ dễ rơi vào khai thác vụn vặt. Nếu chỉ nhìn y học cổ truyền như một di sản văn hóa, chúng ta sẽ dễ dừng lại ở bảo tồn. Nếu chỉ nhìn y học cổ truyền như một phương pháp bổ trợ, chúng ta sẽ không thấy hết tiềm năng chiến lược của nó.
Cần nhìn y học cổ truyền như một hệ sinh thái tri thức. Trong hệ sinh thái đó có lý luận, kinh nghiệm, dược liệu, phương pháp điều trị, dữ liệu lâm sàng, văn hóa, y đức, lối sống, sản phẩm và mô hình chăm sóc sức khỏe.
Khi được tổ chức lại, chuẩn hóa và kết nối với khoa học công nghệ hiện đại, hệ sinh thái này có thể tạo ra giá trị mới cho y tế, kinh tế, văn hóa và vị thế quốc gia.
7 bước chuyển hóa di sản thành nguồn lực quốc gia
Quan trọng hơn nữa là câu hỏi “Làm thế nào để chuyển hóa di sản tri thức y học cổ truyền thành nguồn lực phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI?”
Đây là một câu hỏi vừa mang tính học thuật, vừa mang tính chính sách, vừa mang tính thực tiễn.
Nó đòi hỏi không chỉ sự quan tâm của ngành y tế, mà còn cần sự vào cuộc của các nhà quản lý, nhà khoa học, cơ sở đào tạo, bệnh viện, doanh nghiệp, địa phương, lương y, thầy thuốc và toàn xã hội.

Chuẩn hóa thuật ngữ, bệnh án và quy trình thực hành là nền tảng để xây dựng ngôn ngữ chung, dữ liệu chung, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu, đào tạo và phối hợp trong y học cổ truyền. Ảnh: Hoài Bảo.
Trước hết, cần xây dựng một chiến lược quốc gia về tri thức y học cổ truyền. Chiến lược này phải bao gồm việc sưu tầm, bảo tồn, chuẩn hóa, số hóa và phân tích kho tàng tri thức y học cổ truyền Việt Nam.
Các y văn cổ, bài thuốc kinh nghiệm, tri thức dân gian, dữ liệu bệnh án, kinh nghiệm của lương y, dữ liệu điều trị tại bệnh viện và dữ liệu sử dụng dược liệu cần được tập hợp thành hệ thống.
Thứ hai, cần chuẩn hóa thuật ngữ, bệnh án và quy trình thực hành y học cổ truyền. Nếu không có ngôn ngữ chung và dữ liệu chung, rất khó nghiên cứu, đào tạo, đánh giá hiệu quả và phối hợp giữa các cơ sở.
Chuẩn hóa không có nghĩa là làm nghèo đi sự đa dạng của y học cổ truyền, mà là tạo nền tảng để tri thức có thể được chia sẻ, kiểm chứng và phát triển.

Nghiên cứu y học cổ truyền cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của nền y học này, đồng thời bảo đảm tính khoa học và không áp dụng máy móc một mô hình nghiên cứu duy nhất. Ảnh: Hoài Bảo.
Thứ ba, cần phát triển nghiên cứu khoa học phù hợp với đặc thù của y học cổ truyền. Không nên áp dụng máy móc một mô hình nghiên cứu duy nhất.
Y học cổ truyền cần nhiều loại nghiên cứu như nghiên cứu y văn, nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu độc tính, nghiên cứu dược lý, thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu quan sát,nghiên cứu dược lý mạng lưới, nghiên cứu dữ liệu lớn và nghiên cứu mô hình tích hợp.
Thứ tư, cần xây dựng các mô hình phối hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong những lĩnh vực cụ thể.
Các lĩnh vực nên ưu tiên gồm bệnh mạn tính, đau, phục hồi chức năng, các rối loạn cơ năng, chăm sóc người cao tuổi, hỗ trợ điều trị người bệnh ung thư, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi sau bệnh, nâng cao thể trạng và chất lượng sống.

Y học cổ truyền có thể phát huy vai trò trong chăm sóc bệnh mạn tính, giảm đau, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ nâng cao chất lượng sống. Ảnh: Hoài Bảo.
Thứ năm, cần phát triển công nghiệp dược liệu Việt Nam theo chuỗi giá trị. Từ vùng trồng, giống, canh tác, thu hái, sơ chế, bào chế, kiểm nghiệm, nghiên cứu, sản xuất, phân phối đến xây dựng thương hiệu đều phải được tổ chức bài bản. Chỉ khi đó dược liệu Việt Nam mới có thể trở thành ngành kinh tế sức khỏe có giá trị cao.
Thứ sáu, cần phát triển đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền trong kỷ nguyên mới. Người thầy thuốc y học cổ truyền không chỉ cần giỏi lý luận cổ truyền và kinh nghiệm lâm sàng, mà còn cần hiểu y học hiện đại, có tư duy khoa học, biết sử dụng dữ liệu, biết nghiên cứu, biết phối hợp liên ngành và có năng lực truyền thông tri thức.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng giúp y học cổ truyền phát triển trong bối cảnh hội nhập và ứng dụng khoa học công nghệ. Ảnh: Duy Hiệu.
Thứ bảy, cần xây dựng thương hiệu y học cổ truyền Việt Nam như một phần của sức mạnh mềm quốc gia. Thương hiệu này phải dựa trên bản sắc Việt Nam, nền tảng khoa học, chất lượng sản phẩm, sự an toàn, tính nhân văn và khả năng hội nhập quốc tế.
Nếu làm được những điều đó, y học cổ truyền Việt Nam sẽ không chỉ được bảo tồn, mà còn được phát triển. Không chỉ phục vụ khám chữa bệnh, mà còn tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới, mô hình chăm sóc sức khỏe mới, ngành kinh tế mới và hình ảnh mới cho quốc gia.
Cơ hội chỉ thành hiện thực khi dám đổi cách nghĩ
Y học cổ truyền Việt Nam đang đứng trước một thời điểm rất đặc biệt. Chúng ta có di sản tri thức lâu đời, có nguồn dược liệu phong phú, có kinh nghiệm lâm sàng đa dạng, có những danh y lớn, có bản sắc văn hóa riêng và có định hướng chính sách thuận lợi.
Đây là cơ hội lớn để y học cổ truyền chuyển mình.
Nhưng cơ hội chỉ trở thành hiện thực khi chúng ta dám thay đổi cách nghĩ và cách làm. Không thể chỉ xem y học cổ truyền là quá khứ cần gìn giữ. Cũng không thể chỉ xem y học cổ truyền là một vài phương pháp hỗ trợ rời rạc. Càng không thể phát triển y học cổ truyền bằng sự tự hào chung chung mà thiếu chuẩn hóa, thiếu nghiên cứu, thiếu dữ liệu và thiếu chiến lược.

Phát triển y học cổ truyền cần vượt qua cách tiếp cận manh mún, dựa trên chuẩn hóa, nghiên cứu, dữ liệu và chiến lược dài hạn thay vì chỉ dừng ở niềm tự hào về di sản. Ảnh: Hoài Bảo.
Nguồn lực lớn nhất của y học cổ truyền Việt Nam không phải chỉ là những thang thuốc cổ hay những cây dược liệu quý, mà là kho tàng tri thức y học được tích lũy qua nhiều thế kỷ.
Trong kỷ nguyên khoa học dữ liệu, sinh học hệ thống, y học cá thể hóa và y học tích hợp, chính kho tàng tri thức này có thể trở thành nguồn lực chiến lược để tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới và mô hình chăm sóc sức khỏe mới cho quốc gia.
Điều quan trọng là phải chuyển hóa được di sản thành nguồn lực; chuyển kinh nghiệm thành dữ liệu; chuyển bài thuốc thành sản phẩm chuẩn hóa; chuyển tư duy hệ thống thành mô hình nghiên cứu; chuyển dược liệu thành ngành công nghiệp sức khỏe; chuyển bản sắc văn hóa thành sức mạnh mềm; và chuyển đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền thành lực lượng khoa học - thực hành có khả năng hội nhập.
Đây là nhiệm vụ lớn, vừa mang tính học thuật, vừa mang tính chính sách, vừa mang tính thực tiễn.

Phát huy giá trị y học cổ truyền cần sự chung tay của nhà quản lý, nhà khoa học, thầy thuốc, cơ sở đào tạo, bệnh viện, doanh nghiệp và cộng đồng. Ảnh: Hoài Bảo.
Nó đòi hỏi tất cả người làm quản lý, nhà khoa học, thầy thuốc y học cổ truyền, cơ sở đào tạo, bệnh viện, doanh nghiệp và cộng đồng cùng động não, cùng quyết tâm và cùng bắt tay hành động.
Nếu có được sự đoàn kết, trí tuệ và hành động đúng hướng, y học cổ truyền Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thành một bộ phận hữu cơ của nền y học quốc gia, một nguồn lực chiến lược của đất nước, một ngành kinh tế sức khỏe có giá trị và một biểu tượng văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI.

