Miếng trầu cay

VHXQ - Trong những ngày dằn dỗi má vì chia đôi nồi thịt kho, một nửa úp lồng bàn, một nửa dấm dúi mang xuống biển cho chị, tôi thấy mình thiệt đáng thương.

Vòng tay má dường như quá nhỏ, ôm bên ni thì hụt bên tê. Ru tôi chưa tròn giấc ngủ đã choàng dậy chạy đi chăm chị đau. Tôi không ghét má, bởi người đàn ông trước đã khiến hạnh phúc của má nát bét hệt như chai rượu đế trên tay ông ta đập xuống nền nhà mỗi nhá nhem tối. Là ba nhặt từng mảnh vỡ, dán lại, để tôi được sanh ra đời.

Tôi không ghét bà nội, người đã cố sống cố chết bắt ba cưới má vì muốn có cháu bồng. Tôi chưa kịp nhớ mặt, bà nội đã theo nhang khói đi đoàn tụ với ông. Đôi lần khó ngủ, tôi tình cờ thấy ba thắp nhang lên ban thờ nội giữa khuya sương rớt. Trong suốt khoảng thời gian kề cạnh, tôi chưa từng nghe ba nói thương mình, nhưng người đàn ông già đầu đó đã rơi nước mắt bên tấm di ảnh trắng đen và nói thương nhớ nội. Tôi lúng túng, chẳng dám bước tới mà nín thở sè sẹ đi vào buồng trùm mền nhìn trần nhà.

Tôi cũng không ghét chị, người đã tranh từng chút tình thương của má, chia nhỏ xé lẻ những rảnh rang ít ỏi má có. Hai tuổi, ba má chị có gia đình mới, chị sống với ngoại tới năm lên bảy thì dọn đồ qua nhà cậu, dăm bữa nửa tháng tới nhà dì. Chị ăn chực ở ké, dè dặt như con mèo hoang khẽ đưa một chân khều nhẹ mọi thứ trước khi chạm vào. Có lúc ba muốn dang tay, nhưng cái bụng tôi còn đang đói nên ba chẳng thể đèo bòng.

* * *

Người tôi ghét là ba, bởi ba chọn làm chủ hôn cho chị thay vì chở tôi lên thị trấn thi chuyển cấp lên lớp 10. Chị cưới thì liên quan chi ba, người dượng đã cướp má khỏi chị? Cho dù ba ruột của chị đã mất, thì đâu ai bắt ba phải lo chuyện bao đồng! Rõ ràng kỳ thi của tôi quan trọng hơn, có thể quyết định số phận tương lai, rứa mà ba mặc kệ. Tôi phải một mình đạp xe mười mấy cây số tới điểm thi, trong khi bạn bè xung quanh đều có ba má đưa đón, vừa run vừa tức vừa tủi thân tột cùng. Dầu cho mười mấy năm sau, đi qua tuổi dậy thì nông nổi, trải đủ kiểu cay đắng gập ghềnh, thì lúc nhớ lại chuyện đó, tôi vẫn giận ba ghê gớm.

Tôi càng trách ba hơn, vì chưa nói với tôi câu chi, đã vội rời đi với nội. Những năm tôi lang bạt làm thuê xa nhà, ba ít khi gọi cho tôi hỏi thăm lo lắng. Mấy lần tôi gọi trước, ba chỉ ngắn gọn: “Làm đủ ăn không? Chừng mô con về?”. Tới khi về rồi, hai ba con cũng chẳng nhiều lời hơn được.

Ngoài lúc cắm mặt kiếm tiền, tôi đốt thời gian trên bàn nhậu. Khuya thất thểu về nhà, thấy ly nước chanh pha sẵn trên bàn, nghe chiếc võng còn đưa cót két, tôi bực mình nói xẵng, biểu ba đi ngủ giùm cái. Mọi câu quan tâm bị gió thổi bay đâu mất. Những khi nhìn thấy nhau chỉ toàn hậm hực. Khoảng cách vô hình giữa ba và tôi được kéo dài ra từ hàng trăm ngàn lần lặng im canh cánh.

Đợt rày xứ Quảng hay mưa. Không phải mưa dông mà do ảnh hưởng của bão ngoài Biển Đông. Trời tắt nắng càng khiến lòng người chùng xuống. Hình như có mùa hè năm nào đó, ba chở tôi trên chiếc xe đạp trành trành từ trường tiểu học về nhà. Tôi thu người lại, dựa vào bờ lưng tấm phản của ba, trùm kín cái áo mưa cánh dơi màu đen để khỏi thấy bầu trời sấm chớp.

Má khóc bạc cả tóc, mặt mũi bơ phờ tái nhợt. Thực ra, mái tóc má đã trắng từng cọng sau những đêm thức canh chăm ba. Suốt hai năm trời má dìu ba qua cơn bạo bệnh, rốt cuộc sức người vẫn không thắng nổi số trời. Có tiếng thở than, răng ba chết trẻ quá. Tôi chợt nhớ lời ba hồi trước: Bông hoa đẹp, người thường hái sớm…

* * *

Chị về dự đám tang ba. Tôi từng nghĩ chị đâu ưa chi cái nhà ni, có lẽ sợ miệng đời cay nghiệt nên cực chẳng đã phải làm tròn nghĩa tử. Chị kể nhiều về quãng đời cực khổ thiếu thốn. Nghe riết, tôi cứ tưởng chị đang trách cứ ba và tôi. Tự dưng bữa ni chị im ắng lạ thường, chỉ lẳng lặng nấu nước pha trà.

Thấy buổi đám dường như thiếu thiếu, chị chạy ù ra chợ mua thêm về mớ đồ. Rồi thoăn thoắt chẻ cau, tỉ mỉ cắt tỉa lá trầu. Tôi không biết têm trầu. Một thằng con trai không biết têm trầu là chuyện bình thường. Tôi nhìn chị, nếp nhăn đầy trên trán. Đôi bàn tay rụt rè ngày xưa được ba dắt lên xe hoa, chừ đang thoăn thoắt têm trầu. Chị quệt vôi trắng lên lá, cho miếng cau nhỏ vào giữa, gập hai mép lá trầu cuộn tròn lại gọn ghẽ, phần lá xanh ôm lấy tất cả. Những miếng trầu được xếp ngay ngắn trên dĩa, cái đặt ban thờ, cái để bàn mời khách.

Trong lời kể của ba, bà nội mê nhai trầu đỏ hoét môi, còn ông nội khoái uống nước chè đen. Mỗi bận giỗ chạp, chưa bao giờ trên ban thờ ông bà thiếu hai món quen thuộc. Có lần má quýnh quáng quên nấu nước chè, ba la rần rần cả buổi. Cứ như thể người đã khuất vẫn ngồi đâu đó trong nhà, coi ngó thử con cháu làm ăn, cúng kính có đường hoàng không. Hình như có lần quá nhớ bà nội, ba cũng nhóp nhép nhai trầu. Chừ ba đã lên đó yên vị cùng ông bà, ba thích ăn chi tôi lại không hề biết.

Tôi cầm một miếng trầu cho vào miệng nhai thử. Một vị hăng nồng xộc thẳng lên sống mũi, cay xè khóe mắt. Nhìn làn khói nhang vờn tấm di ảnh của ba, tôi mới nhận ra, mình đang ngồi đúng chỗ ba vẫn ngồi mỗi bận giỗ chạp. Từng hồi trống thùng… thùng… dội vào lồng ngực. Trong tiếng kèn day dứt, tôi nghe má chậm rãi ngân nga câu thơ mà ngày xưa ba thường hay đọc: “Ngàn năm bóng xế nhành dâu/ Thương nhau cho trọn, kiếp sau lại tìm”.

Mai này, rồi ai sẽ làm chủ hôn cho tôi…?

NY AN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mieng-trau-cay-3350761.html