Lính Đặc công ở Bình độ 400 Lạng Sơn

Để giải phóng được một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, tại Bình Độ 400, Lạng Sơn, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị: Sư đoàn Bộ binh 337, Trung đoàn Đặc công 198, Tiểu đoàn Trinh sát 31, Tiểu đoàn Đặc công 20, Quân khu Một… và dân quân tự vệ huyện Cao Lộc cũ, tỉnh Lạng Sơn đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc.

Trung đoàn Đặc công 198 (nay là Lữ đoàn Đặc công 198) có nhiều đồng đội cùng học lớp Tiểu đội trưởng năm 1979 với Thành Đô. Những người đi giữ biên cương, bảo vệ “Cánh cửa thép Lạng Sơn”, trong đó có Nguyễn Hữu Đăng, Ngô Sự Nghiệp, Bùi Văn Sửu, Phú, Hùng…

Thành Đô gọi cho Đăng, hỏi: “Bạn có tham gia trận đánh Bình Độ 400 đêm 15/5/1981 không?”. Đăng trả lời: “Trận đó tôi không tham gia”. Đồng đội hỏi Bùi Văn Sửu, người cùng quê, gần nhà, là lính C7, quê Thanh Hóa, có tham chiến không. Đồng đội Sửu nhận điện thoại và truyền đạt ngay: “Trận Bình Độ 400 có Quách Văn Hùng, người huyện Cẩm Thủy, lính năm 1978, tham gia. Tôi gửi ông số điện thoại để liên hệ nhé”.

Sau cuộc điện thoại trò chuyện, anh Hùng bảo tôi: “Lúc tôi nhập ngũ, thuộc D198, E113 Đặc công, cùng đơn vị với đồng đội đấy. Trận đánh Bình Độ 400, Lạng Sơn, đêm 15/5/1981, tôi trực tiếp tham gia và bị thương”.

Cựu chiến binh, thương binh Quách Văn Hùng. Ảnh: NVCC

Cựu chiến binh, thương binh Quách Văn Hùng. Ảnh: NVCC

Anh Quách Văn Hùng, sinh ngày 10/9/1959 tại thôn Tân Thành, xã Cẩm Tâm, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn Cẩm Tâm, xã Cẩm Vân, tỉnh Thanh Hóa).

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Bố tôi tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi. Tôi được ăn học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa và lớn lên trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Đến năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất, quân và dân ta chưa kịp nghỉ ngơi để xây dựng lại quê hương, đất nước thì biên giới Tây Nam lại xảy ra chiến sự do bọn diệt chủng Pol Pot phá hoại, xâm chiếm biên giới nước ta. Lúc đó, tôi tình nguyện làm đơn lên đường nhập ngũ để được cầm súng bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 20/4/1978, tôi lên đường nhập ngũ, được biên chế vào Đại đội 3, D1, F442, huấn luyện tại Thọ Xuân, Thanh Hóa. Sau bốn tháng huấn luyện cơ bản, đến tháng 8/1978, tôi được biên chế sang đơn vị chiến đấu, vào C3, D198, E113 (nay là Lữ đoàn Đặc công 113), BTL Đặc công. Trong lúc đơn vị chuẩn bị lên đường vào Nam, tôi bàng hoàng nhận tin sét đánh bên tai: bố tôi qua đời. Do nhiệm vụ cao cả, tôi đành bất hiếu, không thể về để tang cho bố được.

Sau đó, tôi cùng đơn vị hành quân vào Tây Ninh. Tại đây, chúng tôi tiếp tục huấn luyện. Do địa hình chưa đủ phức tạp, đơn vị lại di chuyển xuống thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Chúng tôi huấn luyện học bơi sông, học đánh thành phố, học đánh sân bay. Việc huấn luyện rất vất vả. Đến ngày 28/12/1978, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân lên biên giới Tây Ninh.

Sang đến khu rừng cao su Mi Mút, thuộc tỉnh Pông Công Chàm, Campuchia, chúng tôi dừng chân do đơn vị không có xe chở quân. Sau đó, chúng tôi lại quay về Bến Sỏi, Tây Ninh, tiếp tục học bơi sông trên dòng sông Vàm Cỏ.

Đến 28 tháng Chạp âm lịch, đơn vị được lệnh khẩn cấp hành quân. Chúng tôi lại hành quân lên sân bay Trảng Lớn, rồi đi máy bay vào sân bay Chi Lăng, An Giang. Tôi cùng đơn vị được ăn một bữa Tết đầu tiên trong đời lính, cũng là bữa cơm tối 30 Tết. Sáng mùng 1 Tết, tôi cùng đơn vị hành quân sang Tà Keo, Campuchia. Sáng mùng 2, các đơn vị bắt đầu nổ súng.

Lần đầu tiên trong đời lính được trực tiếp chiến đấu, chúng tôi đánh rất ác liệt. Nhiều trận, tôi tưởng mình đã bỏ mạng. Đến ngày 18/2/1979, chúng tôi tiếp tục chiến đấu rất ác liệt. Chúng tôi chiếm được một kho đạn của địch. Mất kho đạn, địch tập trung tấn công dữ dội. Tôi là xạ thủ B41. Trong trận đó, tôi bắn bảy quả B41, trong đó diệt một xe tăng của địch.

Đến chiều, tôi bị thương ở tay phải. Lúc đó, tôi phải rút ra phía sau để được các y, bác sĩ băng bó. Đến tối hôm đó, tôi theo các anh trinh sát dẫn đường ra viện, cùng với mấy anh em đồng đội cũng bị thương.

Trời ơi, lúc đó chúng tôi đói lả người. Vừa đau lại phải đi suốt một đêm. Đến sáng, chúng tôi mới vào đến Viện dã chiến ở thị xã Tà Keo.

Ngày 22/2/1979, đơn vị được lệnh ra phía Bắc. Lúc đó, biên giới phía Bắc rất căng thẳng. Khi mấy anh em đồng đội chúng tôi đang nằm viện thì thấy xe của đơn vị hành quân về Việt Nam để nhận nhiệm vụ ra Bắc. Chúng tôi vẫy gọi xe dừng lại, anh em chúng tôi lên xe, trốn viện cùng hành quân về đến cứ Mỹ Tho, Tiền Giang.

Tại đây, đơn vị được ăn một bữa cơm yên tĩnh trên quê hương đất mẹ. Tối hôm đó, chúng tôi tiếp tục hành quân. Xe chở chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhất, rồi bay ra Hà Nội. Đơn vị được nghỉ một ngày và họp. Tôi được bình xét thành tích chiến đấu. Cá nhân tôi được đề nghị tặng một Huân chương Chiến công hạng Ba và được thăng quân hàm vượt cấp từ Binh nhất lên Trung sĩ.

Đến tối, các đơn vị chiếu phim và Đoàn Tuyên văn Bộ Tư lệnh Đặc công lên biểu diễn. Khoảng 2-3 giờ sáng, đơn vị củng cố tư trang, khí tài rồi hành quân lên biên giới Lạng Sơn.

Lên đến Lạng Sơn, lúc đó chúng tôi được trở lại phiên hiệu đơn vị cũ là C7, D20, E198, BTL Đặc công.

Sau đó, C7 tiếp tục bám địch, đánh dọc theo sông Kỳ Cùng, đánh lên đồi 800 (núi Chóp Chài), thị xã Lạng Sơn. Sau đó, quân địch rút hết. Đơn vị hành quân lên đỉnh Mẫu Sơn đóng quân và huấn luyện.

Trung tướng Dương Công Sửu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 198, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1 trao kỷ niệm chương Mặt trận Lạng Sơn thời kỳ 1979 - 1984 cho các đại biểu tham dự buổi gặp mặt Tri ân 45 năm ngày trận đánh bình độ 400 tại Lạng Sơn 16/5/1981- Ảnh: Báo và phát thanh truyền hình Lạng Sơn

Trung tướng Dương Công Sửu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 198, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1 trao kỷ niệm chương Mặt trận Lạng Sơn thời kỳ 1979 - 1984 cho các đại biểu tham dự buổi gặp mặt Tri ân 45 năm ngày trận đánh bình độ 400 tại Lạng Sơn 16/5/1981- Ảnh: Báo và phát thanh truyền hình Lạng Sơn

Cho đến sáng ngày 05/05/1981, quân Trung Quốc đánh chiếm Bình Độ 400, Cao Lộc.

Buổi sáng, đơn vị đánh kẻng báo thức, ra tập thể dục như thường lệ thì trên biên giới súng nổ vang dội. Lúc đó, anh Vân, Đại trưởng, cho giải tán đơn vị về ăn cơm sáng và sẵn sàng chiến đấu, không ai được ra khỏi đơn vị.

Ngay sau đó, Đại đội được lệnh cấp trên cho một Trung đội đi làm nhiệm vụ. Đơn vị tập trung đọc danh sách, trong đó có tôi. Tôi về phòng sắp xếp quân tư trang, khí tài cùng anh em hành quân vào biên giới.

Anh Đào Văn Xe, Trung đội trưởng, đi bám địch. Chúng tôi ở lại tập trung đào hầm và nấu cơm. Ngay lúc đó, anh Hoàn, Chính trị viên, và anh Kỳ, Tiểu đoàn trưởng, xuống kiểm tra. Có người hỏi C7 ai phụ trách, chúng tôi trả lời: “Anh Trung đội trưởng đi bám địch rồi ạ”. C7 không có Trung đội phó. Anh Hoàn, Chính trị viên, chỉ định tôi phụ trách Trung đội phó.

Chúng tôi, anh em đồng đội, luôn sẵn sàng chiến đấu. Đến chiều ngày 15, từ Tiểu đội trưởng trở lên lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Anh em còn lại ở nhà tiếp tục gói, buộc thuốc nổ, chuẩn bị khí tài.

Lên đến Tiểu đoàn, anh Tham mưu phó Nguyễn Duy Hiến lên sa bàn. Sau đó, Thiếu tướng Hoàng Đan ra nói chuyện và giao nhiệm vụ, hỏi từng cá nhân có quyết tâm đánh không. Tất cả đều thể hiện quyết tâm. Tiếp đó, ông Bùi Minh Hiếu, Trung đoàn trưởng, ra nói chuyện và đọc bài thơ chúc anh em đồng đội quyết thắng.

Đến tối ngày 15, chúng tôi hành quân, ém sát mục tiêu trận địa. Khoảng 2 giờ rạng sáng ngày 16, giờ G đã đến. Một tiếng nổ long trời, lở đất. Bộc phá lệnh đã nổ. Chúng tôi nhanh như con sóc, theo hướng được phân công. Tôi đánh mỏm 3. Ngay quả thủ pháo đầu tiên của tôi đã diệt ngay một tên lính Trung Quốc xâm lược. Tiếng súng, tiếng thủ pháo nổ liên tiếp, bọn địch không kịp trở tay.

Chúng tôi đánh rất ác liệt. Tôi ra lệnh cho chiến sĩ hỏa lực B41: “Anh cứ bắn. Có sức khỏe, anh bắn được bao nhiêu thì cứ bắn”.

Chúng tôi đánh xong, chờ đơn vị bạn lên bàn giao chốt nhưng họ không lên được. Tôi và các đồng đội tiếp tục giữ chốt. Được 6 giờ, đến khoảng 8 giờ sáng, tôi bị thương rất nặng. Tôi bò lê hết 3 mỏm đồi rồi được anh em đơn vị bạn đưa xuống. Sau đó, tôi được đưa đi viện.

Trên đường đi viện, tôi bị ngất đi nhiều lần. Cô y tá phải tiêm cho tôi 3 lần rồi chúng tôi mới đến viện.

Sau đó, khi bình xét thành tích chiến đấu, tôi được đề nghị tặng một Huân chương Chiến công hạng Nhì và thăng quân hàm vượt cấp từ Trung sĩ lên Chuẩn úy.

Sau nhiều tháng điều trị tại bệnh viện, vết thương của tôi đã khô và tôi được ra viện. Sau giám định sức khỏe, tôi mất 61% sức khỏe, được công nhận là thương binh hạng 2.

Trong thời gian quân ngũ 4 năm 8 tháng, tôi được khen thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba; 2 Bằng khen; một Huy chương Tuổi trẻ Anh hùng bảo vệ Tổ quốc; một Huy hiệu Chiến sĩ Quyết thắng và một Huy hiệu Chiến sĩ Thi đua năm 1979.

Cựu chiến binh Quách Văn Hùng ( phải ) Tác giả Thành Đô ( bìa trái )- Ảnh: Thành Đô

Cựu chiến binh Quách Văn Hùng ( phải ) Tác giả Thành Đô ( bìa trái )- Ảnh: Thành Đô

Đến cuối năm 1982, tôi được phục viên về địa phương. Lúc đó, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bản thân tôi thì gầy yếu. Gia đình tôi có 5 anh em trai, trong đó 4 người tham gia chiến trường: 2 người chiến đấu ở Campuchia, 1 người ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang. Cuộc sống thật vất vả. Khi sinh hoạt tại địa phương, tôi cũng tham gia Hội Cựu chiến binh.

Thành Đô hỏi Quách Văn Hùng: “Anh là cựu chiến binh, thương binh, tham gia chiến đấu ở chiến trường K và Biên giới phía Bắc. Sau chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường, anh có trăn trở gì không?”.

Ý kiến của tôi là tôi cảm thấy cũng còn thấy thiếu công bằng với các cựu chiến binh. Tôi mong Đảng và Nhà nước nghiên cứu, có chính sách quan tâm đến các cựu chiến binh. Bây giờ họ cũng sắp đến tuổi thất thập cả rồi, nhiều người còn mang bệnh tật, ốm yếu.

Cuối cùng, tôi xin kính chúc tất cả anh em đồng đội, những người thương binh đã bỏ lại một phần xương máu, đã đóng góp, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, vun đắp cho màu xanh quê hương, đất nước.

CCB Nguyễn Phương Hòa ( bìa phải ) đồng đội lính đặc công quê Nghệ An cùng đơn vị với CCB Quách Văn Hùng ( bìa phải )- Ảnh: Nguyễn Phương Hòa

CCB Nguyễn Phương Hòa ( bìa phải ) đồng đội lính đặc công quê Nghệ An cùng đơn vị với CCB Quách Văn Hùng ( bìa phải )- Ảnh: Nguyễn Phương Hòa

Kỷ niệm 45 năm ngày trận đánh Bình Độ 400 tại Lạng Sơn, ngày 16/5/1981, CCB Nguyễn Phương Hòa, quê Nghệ An, cùng nhập ngũ năm 1978 với CCB Quách Văn Hùng (C3, D198, E113), gửi tin nhắn nhận xét về đồng đội cũ Quách Văn Hùng:

“Hùng này đánh nhau giỏi lắm. Ở Campuchia, từ Binh nhất lên Trung sĩ. Trong lúc đó, chưa được một tuổi quân, ra Bắc đánh nhau với quân Trung Quốc. Hùng không may bị thương vào mắt. Nếu không có Hùng làm việc ở quân đội, là người giỏi lắm”.

Vâng, CCB Quách Văn Hùng là thế đó!

Thành Đô

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/linh-dac-cong-o-binh-do-400-lang-son-a34771.html