Ký ức hào hùng của những người lính già
Những cái bắt tay siết chặt, những vòng tay vồn vã cùng ánh mắt rạng rỡ trên khuôn mặt hằn sâu vết thời gian khiến các cựu chiến sĩ Đặc công Biệt động Lê Độ như trẻ lại trong ngày hội ngộ.

Các đồng đội đơn vị Đặc công Biệt động Lê Độ gặp nhau trong sáng 21/8. Ảnh: VĨNH LỘC
Hơn nửa thế kỷ quê hương giải phóng, tình đồng đội vẫn là sợi dây gắn kết những người từng vào sinh ra tử, cùng nhau gìn giữ ký ức về đồng đội đã ngã xuống.
Gặp nhau để nhớ về đồng đội
Sáng 21/8, ông Dương Phú Đức (sinh năm 1949, xã Sông Vàng) đứng thành kính trước Tượng đài tưởng niệm cuộc tấn công Quân vụ thị trấn của địch tại Đà Nẵng, tay nắm chặt nén hương, lặng im hồi tưởng những năm tháng chiến đấu trong lòng địch tại lễ giỗ thường niên các liệt sĩ đơn vị.
“Tôi thường nhớ về đồng đội đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. Những dịp như thế này là để chúng tôi trở về cùng đồng đội”, ông Đức chia sẻ.
Để kịp dự lễ, từ 6 giờ sáng, ông Đức chạy xe máy từ xã Sông Vàng xuống trung tâm thành phố cách gần 50km. Với ông, quãng đường xa không phải trở ngại, bởi mỗi lần gặp đồng đội là một lần được trở về với ký ức tuổi trẻ.
Quê gốc ở xã Điện Phương (nay thuộc phường Điện Bàn), năm 1967 ông Đức tham gia bộ đội địa phương. Một năm sau, ông chuyển sang đơn vị Đặc công Biệt động Lê Độ. Năm 1969 bị lộ, ông trở về Điện Phương tiếp tục hoạt động du kích.
Năm 1971, ông Đức bị thương, được đưa ra miền Bắc điều trị, đến năm 1973 trở lại vùng núi Đà Nẵng hoạt động cho đến ngày thống nhất.
“Bao nhiêu anh em đã ngã xuống, có người đến nay chưa tìm được hài cốt. Mình sống đến hôm nay đã là điều rất quý. Nên anh em còn sống rất quan tâm nhau, năm nào có lễ giỗ đồng đội tôi đều cố gắng về dự. Đó là những phút giây hạnh phúc!”, ông Đức nói.
Ngày 28/3/1968, tại thôn 1, xã Điện Chính (nay thuộc xã Gò Nổi), Bộ Tư lệnh Mặt trận 44 quyết định thành lập Đại đội Đặc công biệt động Lê Độ, mật danh C180, với lực lượng ban đầu gồm 160 cán bộ, chiến sĩ tuyển chọn từ lực lượng đặc công, bộ đội địa phương các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Hòa Vang cùng biệt động nội thành và sinh viên, học sinh tình nguyện.
Các chiến sĩ được huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đặc công, chiến đấu độc lập, có khả năng di chuyển hợp pháp trong nội thành Đà Nẵng để đánh cơ quan đầu não địch. Đơn vị đồng thời phối hợp lực lượng biệt động bên trong, hỗ trợ đấu tranh chính trị, binh vận và bảo vệ cán bộ hoạt động bí mật.
Trong 7 năm chiến đấu, đơn vị Lê Độ tham gia hàng chục trận đánh, phá hủy nhiều phương tiện quân sự và tiêu diệt hàng trăm tên địch.
Đằng sau chiến công ấy là sự mất mát không thể bù đắp: 83 cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày; 70 người anh dũng hy sinh, trong đó nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt.

Cựu chiến sĩ Đặc công Biệt động Lê Độ viếng hương những đồng đội đã ngã xuống trong chiến tranh. Ảnh: VĨNH LỘC
Những ký ức không thể nào quên
Ông Võ Văn Ngọ (sinh năm 1952, quê Điện Ngọc, nay thuộc phường Điện Bàn Đông) là một trong những người mang trên mình thương tật chiến tranh. Hai mắt không nhìn thấy sau trận đánh năm 1969, nhưng năm nào ông cũng nhờ vợ đưa đến dự lễ để được thắp nén hương, nghe tiếng đồng đội.
“Với tôi, những ngày như thế này rất thiêng liêng. Tôi như được sống lại với tuổi trẻ, với năm tháng chiến đấu và những đồng đội đã hy sinh”, ông Ngọ bộc bạch.
Tham gia cách mạng năm 1966, ông Ngọ hoạt động nội thành, sau khi bị lộ phải thoát ly gia nhập Đặc công Biệt động Lê Độ. Năm 1969, ông bị thương nặng, mất khả năng nhìn và đưa ra miền Bắc điều trị.
Năm 1981, ông kết duyên với bà Trần Thị Bút. Không chỉ cùng ông xây dựng gia đình, bà Bút còn trở thành “đôi mắt” của chồng. Những ngày lễ, ngày giỗ đơn vị, bà thường đưa ông đến gặp đồng đội, thắp hương cho người nằm xuống.
Trong buổi hội ngộ, câu chuyện của những lính già rộn ràng tiếng cười, đôi khi chùng xuống khi nhắc về đồng đội. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về các trận đánh, những gương mặt từng sát cánh vẫn nguyên vẹn.
Ông Thái Triều Thắng (sinh năm 1950, quê thôn La Thọ, phường Điện Bàn Bắc) cho rằng, so với đồng đội đã hy sinh, việc bản thân trở về nguyên vẹn là niềm hạnh phúc lớn.
Cuối năm 1966, ông Thắng tham gia giao liên địa phương. Một năm sau, ông ra Đà Nẵng làm thợ mộc, bán kem để hoạt động cách mạng. Công việc giúp ông quan sát đồn bốt địch, móc nối cơ sở và đưa người tham gia cách mạng.
Năm 1968, ông làm Đội trưởng Đội Đặc công, chỉ huy hơn 10 chiến sĩ. Năm 1973, ông bị thương, đưa ra miền Bắc điều trị cho đến ngày giải phóng.
Ông Thân Vĩnh Vân, Trưởng ban Liên lạc truyền thống Đặc công Biệt động Lê Độ cho biết, sau 51 năm thống nhất, đơn vị hiện còn khoảng 170 người. Nhiều đồng đội tuổi cao, là thương binh, nhiễm chất độc da cam hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.
Vì vậy, bên cạnh tổ chức dâng hương tại các địa điểm ghi dấu chiến công, Ban Liên lạc duy trì hoạt động nghĩa tình như thăm hỏi lúc đau ốm, hỗ trợ gia đình và viếng tang khi có người qua đời.
“Trước sự hy sinh xương máu của các liệt sĩ, những đồng đội còn sống hôm nay sẽ tiếp tục giữ gìn, phát huy truyền thống vẻ vang của đơn vị, nguyện sống xứng đáng với những gì các anh hùng, liệt sĩ đã hiến dâng cho đất nước”, ông Vân nói.
