Kỷ nguyên AI: học để học suốt đời
Ông chủ hãng xe hơi Henry Ford từng nói, bất cứ ai dừng việc học, dù ở tuổi 20 hay 80, đều trở nên già nua. Những người tiếp tục học luôn trẻ trung. Thời của trí tuệ nhân tạo (AI), con người phải học không ngừng do 'con' AI luôn học cái mới và 'nó' không bao giờ già. Già trong tâm trí thì con người khó theo kịp trong kỷ nguyên AI vươn mình.

Những biến đổi của giáo dục và học tập
Thời nguyên thủy với nền kinh tế hái lượm, giáo dục còn thô sơ, con người học nhau bằng cách quan sát lẫn nhau. Dần dần, khi xã hội văn minh hơn, thầy cô và trường lớp ra đời. Thời tôi tới trường, vào những năm 1960 của thế kỷ trước, đất nước còn nghèo đói, chiến tranh, bố mẹ phần lớn là nông dân. Đưa con tới trường, câu cửa miệng của nhiều phụ huynh là “thôi thì trăm sự nhờ thầy cô, may ra cháu nên người, bố mẹ có chỗ dựa”. Nhà trường vì thế gánh phần lớn trách nhiệm học hành của trẻ, gia đình thì “biết gì mà dạy con”, ngoài dọa nạt và đòn roi.
Khi tôi làm bố ở đầu thế kỷ 21 không còn kiểu “trăm sự nhờ...” nữa mà chỉ còn “vài chục sự”, bộ ba “gia đình, nhà trường và xã hội” chung tay. Nhà trường có dạy tốt tới đâu mà gia đình và xã hội không ổn thì đứa trẻ khó thành người tử tế.
Thời của AI bây giờ thì sao? Vẫn bộ ba nhưng thêm công nghệ. Loài người đã trải qua khoảng 12 thế hệ, kể từ Homo Sapiens tới thế hệ hiện nay là Gen Z - thế hệ được gọi vui là Phono Sapiens (sinh ra trong thời đại điện thoại thông minh). Họ lớn lên cùng AI, điện thoại thông minh và công nghệ thực tế ảo, yêu thích học hỏi, tương tác trực tuyến và thành thạo công nghệ. Thời của AI bắt đầu thì mọi thứ phải thay đổi, trước hết là giáo dục và cách chúng ta học.
Tôi nhớ khi vào dạy công nghệ thông tin (IT) ở trường Dân lập Thăng Long đầu những năm 1990, sinh viên thời đó tiếng Anh yếu. Vài từ tiếng Anh đơn giản của ngôn ngữ lập trình Pascal tôi phải dạy các em phát âm, rồi ghi cả lên bảng bằng tiếng Việt, nhưng rồi khi lập trình vẫn thường sai do ngoại ngữ yếu, không nhớ được những từ cơ bản.
Với một chiếc điện thoại thông minh, một đứa trẻ có thể lục tìm cả thế giới, từ cổ chí kim, để tiếp cận thông tin. Vấn đề vì thế không còn là học cách sử dụng thiết bị nữa mà là học cách xử lý thông tin.
Thời của Gen Z không dễ. Ở vùng quê, một cô giáo bao cả các môn từ toán, văn... đến ngoại ngữ do trường thiếu giáo viên. Cô sinh ra thời có máy tính cá nhân, biết tiếng Anh lõm bõm, phát âm theo kiểu tiếng Việt lại kèm nói ngọng L, N. Khi cô “Hello” nói thành “Hê nô” bọn trẻ cười ầm vì chúng xem TikTok, YouTube quá quen với phát âm tiếng Anh.
Đầu những năm 1990 việc học sử dụng máy vi tính là cần câu cơm. Không biết dùng Word, Excel, Powerpoint, copy file, và sau này soạn e-mail, tin nhắn, tìm kiếm thông tin trên Internet, coi như bị loại khỏi cuộc chơi.
Thời nay Phono Sapiens lại khác nữa. Người dọn rác ven hồ Tây biết dùng điện thoại thông minh để quay lại con đường cô vừa dọn làm chứng cứ cho sếp là cô đã làm tròn vai, khi sếp kiểm tra mà bẩn bừa là do người ta xả sau khi cô quét.
Khi có máy tính người ta sợ nó thay thế con người, nhưng rồi máy tính lớn, máy tính cá nhân và giờ là điện thoại thông minh, chưa có thiết bị nào thay người mà chỉ là người thay đổi cách làm việc vì có công nghệ mới hiệu quả hơn.
Thế kỷ của bùng nổ thông tin
Một đứa trẻ sinh ra hôm nay, vào phần tư đầu của thế kỷ 21, khó mà tưởng tượng cha ông chúng từng không có Internet, điện thoại thông minh. Radio, từ khi được phát minh, phải mất tới nửa thế kỷ mới có 50 triệu người được tiếp cận. Truyền hình cần khoảng 20 năm, còn Internet chỉ mất sáu năm. Năm 1997 Việt Nam mở cửa Internet, khi Công nương Diana bị tai nạn, chỉ mất vài phút, hàng triệu người xứ này đã biết.
Internet ra đời kéo theo một lượng thông tin khổng lồ. Trong nhiều tài liệu và cách diễn giải phổ biến về lịch sử tri thức, người ta thường dùng một phép so sánh mang tính ước lệ: nếu coi toàn bộ kiến thức của loài người ở thời điểm khởi đầu Công nguyên như một đơn vị, thì phải mất 1,5 thiên niên kỷ để lượng thông tin ấy tăng gấp đôi. Sau đó, chu kỳ nhân đôi ngày càng rút ngắn còn vài trăm năm, rồi chỉ còn vài chục năm. Khi Internet ra đời thì lượng tin nhân đôi tính theo đơn vị ngày. Đây chính là thế giới thông tin của con người sống trong thời AI. Giáo dục và học tập trong biển thông tin này không hề đơn giản.
Thời của máy tính, ngành giáo dục đã phải thêm môn vi tính ngoài những môn truyền thống toán, văn, lý, hóa... để trẻ có kỹ năng cho mưu sinh sau này. Thật khó tưởng tượng thời nay một người đi làm lại không biết dùng những phần mềm cơ bản của Microsoft. Đó là vì cách giáo dục đã thay đổi từ khi máy tính cá nhân ra đời từ những năm 1990.
Chuyển sang thời AI thì sử dụng máy tính không còn dừng ở việc học đơn thuần như trước mà phải học tìm tin, sàng lọc, chế biến..., gọi một cách đơn giản là xử lý thông tin cho công việc của mình dù có trợ lý ảo AI rất thông minh.
Ở thế kỷ trước, thầy cô giảng, trò chép vào vở, học thuộc một cách thụ động, ghi nhớ sự kiện, con số, thuộc bảng cửu chương, giải phương trình, nhận diện các châu lục trên bản đồ. Sang thời của AI, chỉ cần có Internet là có gần như tất cả. Với một chiếc điện thoại thông minh, một đứa trẻ có thể lục tìm cả thế giới, từ cổ chí kim, để tiếp cận thông tin. Vấn đề vì thế không còn là học cách sử dụng thiết bị nữa mà là học cách xử lý thông tin.
Giáo dục trong kỷ nguyên AI
Bàn về giáo dục thời AI thì tốt nhất là hỏi AI vì “nó” có khả năng tổng hợp trí tuệ thuộc tầm nhân loại về mọi lĩnh vực. Hỏi thử Google thì AI trả lời như chuyên gia giáo dục.
AI viết...
“Giáo dục trong kỷ nguyên AI đòi hỏi sự chuyển đổi từ học thuộc lòng sang bồi dưỡng các kỹ năng độc đáo của con người như tư duy phản biện, sáng tạo và trí tuệ cảm xúc, đồng thời tích hợp các công cụ AI để học tập được cá nhân hóa, nâng cao hiệu quả quản lý và giảng dạy thích ứng”.
Trọng tâm chuyển sang “learning to learn - học cách học”, sử dụng AI như một trợ lý mạnh cho các nhiệm vụ như chấm điểm và dạy kèm, nhưng đòi hỏi sự hướng dẫn về đạo đức, khả năng hiểu biết về truyền thông và chương trình giảng dạy mới để chuẩn bị cho sinh viên những công việc được chuyển đổi bởi AI, tập trung vào giải quyết vấn đề phức tạp, hợp tác và quan hệ đối tác giữa con người và AI.
Những thay đổi chính trong giáo dục
- Mục tiêu: Phát triển những cá nhân toàn diện, có thể phát triển mạnh mẽ với AI, tập trung vào các kỹ năng lấy con người làm trung tâm như sự đồng cảm, hợp tác và học tập suốt đời;
- Chương trình giảng dạy: Vượt ra ngoài việc học thuộc lòng để phát triển các kỹ năng như phán đoán, phân tích, giải quyết vấn đề phức tạp, khả năng hiểu biết về dữ liệu và sử dụng công nghệ một cách có đạo đức;
- Phương pháp giảng dạy: Gia sư AI, lộ trình học tập cá nhân hóa, chấm điểm tự động và phản hồi theo thời gian thực để giải phóng giáo viên, giúp họ có thêm thời gian tương tác sâu sắc hơn với học sinh.
AI được sử dụng như thế nào trong giáo dục
- Đối với học sinh: Học tập thích ứng, chatbot AI để dạy kèm, hỗ trợ viết bài, nội dung cá nhân hóa.
- Đối với giáo viên: Lập lịch thông minh, chấm điểm tự động, thiết kế chương trình giảng dạy, phân tích tiến độ học sinh, giảm tải công việc hành chính (tiết kiệm khoảng 13 giờ/tuần).
- Đối với các tổ chức: Tuyển sinh cá nhân hóa, dự đoán tỷ lệ bỏ học, lập kế hoạch nguồn lực, tăng cường an ninh khuôn viên.
Thách thức và cân nhắc
- Quá phụ thuộc: Học sinh có thể mất khả năng tư duy phản biện nếu phụ thuộc quá nhiều vào AI.
- Thiên kiến và ảo giác: AI có thể cung cấp thông tin sai lệch, đòi hỏi kỹ năng đọc hiểu phương tiện truyền thông.
- Công bằng: Đảm bảo khả năng tiếp cận và tránh khoảng cách kỹ thuật số.
- Vai trò của nhà giáo dục: AI hỗ trợ, nhưng không thay thế, yếu tố con người không thể thay thế trong giảng dạy.
Phương pháp tiếp cận tương lai
- Tích hợp và độc lập: Kết hợp AI vào các môn học hiện có và cung cấp các khóa học AI chuyên biệt.
- Từng bước: Bắt đầu với sự hiểu biết cơ bản về công nghệ ở cấp tiểu học, chuyển sang ứng dụng ở cấp trung học và sáng tạo ở cấp trung học phổ thông.
- Hướng đến con người: Tập trung vào việc nuôi dưỡng những phẩm chất độc đáo của con người mà AI không thể sao chép, chuẩn bị cho học sinh làm việc với AI.
Trên đây là phần AI của Google trả lời câu hỏi “Giáo dục trong kỷ nguyên AI”, người viết để nguyên, chỉ biên tập vài từ tiếng Việt để bạn đọc tự chiêm nghiệm.
Học để học suốt đời
Gần 20 năm trước, tôi đưa con nhỏ vào lớp một ở Virginia (Mỹ). Đập vào mắt tôi có một câu nói về mục tiêu của trường là “Nurture a lifelong love of learning - Nuôi dưỡng đam mê học suốt đời”. Thời của AI lượng thông tin khổng lồ, không ai nhớ nổi, “học để học suốt đời” là một cách học rất đúng như AI đã nói ở trên. Làm thế nào dạy trò “học để học suốt đời” là một chủ đề khác lớn hơn.
“Học suốt đời” không có nghĩa là lúc nào bạn cũng đi học, tới trường, làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ, chuyển từ ngành này sang ngành khác mà cần biết học cái gì cho công việc của mình, đâu là thế mạnh, điểm yếu để hoàn thiện.
Năm 2004, tôi sang Mỹ làm việc dài hạn. Công việc hàng ngày là viết và trả lời e-mail, cuối tuần viết báo cáo về tình hình IT trong khu vực, gửi cho sếp, đôi khi được đưa vào báo cáo tháng cho Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Cuối năm đó, sau khi ghi nhận kỹ thuật và khả năng quản lý của tôi, ông sếp buông một câu khiến tôi đau điếng: “Kỹ năng giao tiếp có vấn đề”.
Ông sếp gợi ý tôi đi học một lớp về kỹ năng viết và kỹ năng trình bày, mỗi lớp kéo dài một tuần. Lúc ấy mới vỡ ra nhiều điều về cách viết lách của mình có nhiều thứ cần học lại.
Cách dạy văn trong trường ở Việt Nam thường theo mẫu. Trong khi bên Mỹ, học sinh viết văn được tự do sáng tạo. Em nhìn sự việc thế nào thì tả nguyên như thế. Vì thế, nếu tả bà ngoại thì 100 em có 100 bà khác nhau.
Tôi bắt đầu viết blog, viết báo, dần dần kỹ năng tăng lên. Thêm kỹ năng tìm kiếm thông tin với tôi - dân IT - là thế mạnh, những bài viết của tôi bắt đầu được bạn đọc chú ý hơn. Sau 10 năm hưu, tôi viết được khá nhiều và hiện đang học viết báo thời AI. Kết quả có được vì do “learning to learn”.
Thời của AI, học không phải đích mà là hành trình suốt đời bởi ai cũng muốn giữ sự trẻ trong tâm trí như Henry Ford từng nói.

























