Không để địa giới hành chính 'đóng khung' không gian phát triển
(NB&CL) Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản tư duy phát triển: từ cách nhìn mỗi địa phương là một không gian kinh tế tương đối độc lập sang tổ chức một không gian phát triển thống nhất, liên kết và bổ trợ lẫn nhau.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
quốc hội
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu (Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Huế) cho rằng, khi không gian phát triển được tổ chức lại, từng địa phương cần xác định rõ mình có lợi thế gì, có thể đóng góp gì cho vùng và phải làm thế nào để lợi thế ấy được chuyển hóa thành giá trị chung.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu. Ảnh: Nguyễn Hường.
+ Thưa Đại biểu Quốc hội, một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 27-NQ/TW là quan điểm coi phát triển vùng là một phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia. Theo bà, sự thay đổi này cần được hiểu như thế nào trong thực tiễn phát triển hiện nay?
- Theo tôi, đây là một sự thay đổi rất quan trọng về tư duy phát triển. Trước đây, khi nói đến phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta thường bắt đầu từ địa giới hành chính: mỗi tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch, xác định ngành kinh tế mũi nhọn, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng và đặt ra các mục tiêu tăng trưởng của riêng mình.
Cách làm đó có vai trò nhất định trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng vận hành theo chuỗi giá trị, nguồn lực, công nghệ, lao động và thị trường có sự dịch chuyển rất nhanh, thì địa giới hành chính không thể trở thành giới hạn của tư duy phát triển.
Một nhà máy có thể đặt tại địa phương này nhưng nguồn nguyên liệu, nhân lực, dịch vụ logistics lại đến từ địa phương khác. Một cảng biển có thể nằm ở một tỉnh nhưng thị trường phục vụ và vùng hậu phương của cảng rộng hơn rất nhiều. Một trung tâm nghiên cứu, trường đại học hay cơ sở y tế chất lượng cao cũng không chỉ phục vụ người dân trong phạm vi một địa phương.
Vì vậy, điều quan trọng mà Nghị quyết 27 đặt ra là phải nhìn nhận không gian phát triển ở quy mô rộng hơn, coi các địa phương trong một vùng là những bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi nơi cần xác định rõ vị trí, chức năng, lợi thế và nhiệm vụ phát triển của mình để tạo thành một chỉnh thể có sự phân công, liên kết và bổ trợ.
+ Nhưng để biến tư duy ấy thành thực tế, câu chuyện không chỉ nằm ở việc kết nối trên quy hoạch. Vấn đề là các địa phương phải tìm được “phần việc” của mình trong một không gian phát triển chung. Bà nhìn nhận thế nào về yêu cầu này?
- Đây chính là điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết 27. Liên kết vùng không có nghĩa là làm cho các địa phương trở nên giống nhau, càng không phải xóa đi bản sắc hay lợi thế riêng của từng nơi. Ngược lại, liên kết phải giúp mỗi địa phương phát huy tốt hơn những gì mình có.
Chẳng hạn, có địa phương có lợi thế về cảng biển và logistics; có nơi có quỹ đất, công nghiệp và nguồn nhân lực; có nơi mạnh về khoa học, công nghệ, giáo dục; có địa phương có tài nguyên văn hóa, cảnh quan và điều kiện phát triển du lịch. Nếu mỗi nơi cùng đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, rất dễ dẫn đến cạnh tranh nội vùng, đầu tư dàn trải, thậm chí trùng lặp.
Điều cần hướng tới là sự phân công hợp lý. Nơi có điều kiện phát triển công nghiệp công nghệ cao thì tập trung vào công nghiệp công nghệ cao; nơi có thế mạnh logistics thì phát huy vai trò trung tâm logistics; nơi có lợi thế về nông nghiệp thì tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, chế biến và phân phối. Các trung tâm đào tạo, nghiên cứu phải được kết nối với doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của vùng.
Có thể hiểu đơn giản là mỗi nơi làm tốt nhất phần việc của mình, nhưng không đứng một mình.
Từ thực tế thành phố Huế, tôi cho rằng tư duy này càng có ý nghĩa. Huế có những giá trị rất riêng về văn hóa, di sản, du lịch, giáo dục, y tế và khoa học. Nếu chỉ nhìn Huế trong phạm vi một địa phương thì quy mô thị trường và không gian phát triển sẽ có giới hạn. Nhưng nếu đặt Huế trong mối liên kết với Bắc Trung Bộ, với hành lang kinh tế Đông - Tây, với các đô thị, trung tâm kinh tế và hệ thống cảng biển trong khu vực, thì những lợi thế đó có thể được mở rộng thành các chuỗi giá trị lớn hơn.
Đó cũng là cách để các địa phương không bị cuốn vào cuộc chạy đua xem ai cũng phải có đầy đủ các ngành, các khu công nghiệp hay các dự án tương tự nhau.

Hạ tầng giao thông liên vùng được xác định là một trong những động lực quan trọng để mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết và giảm chi phí logistics. Ảnh: TTXVN
+ Một trong những điều kiện để mở rộng không gian phát triển chính là hạ tầng kết nối. Từ những ý kiến của các Đại biểu Quốc hội về các tuyến giao thông liên vùng, có thể thấy đây vẫn là điểm nghẽn lớn. Theo bà, đầu tư hạ tầng trong giai đoạn mới cần thay đổi ra sao để thực sự tạo ra không gian phát triển?
- Tôi cho rằng cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả của một dự án hạ tầng. Một tuyến đường, một cây cầu hay một tuyến đường sắt không nên chỉ được nhìn dưới góc độ công trình giao thông, mà phải đặt câu hỏi: Công trình ấy mở ra không gian phát triển nào? Kết nối những trung tâm kinh tế nào? Giảm chi phí logistics ra sao? Tạo thêm thị trường và thu hút được nguồn lực xã hội thế nào?
Khi đặt câu hỏi như vậy, chúng ta sẽ thấy hạ tầng liên vùng có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều so với phạm vi một dự án.
Chẳng hạn, một tuyến giao thông kết nối các vùng sản xuất với trung tâm logistics, cảng biển, sân bay sẽ giúp doanh nghiệp giảm thời gian và chi phí vận chuyển. Khi chi phí giảm, khả năng cạnh tranh tăng lên, doanh nghiệp có thêm động lực mở rộng sản xuất. Từ đó hình thành các chuỗi liên kết mới và tạo ra một không gian kinh tế mới.
Tôi rất đồng tình với quan điểm phải ưu tiên nguồn lực nhà nước cho những công trình có tính nền tảng, thiết yếu, có khả năng kết nối và tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Nhà nước đầu tư vào những “đường dẫn” quan trọng để mở đường cho nguồn lực tư nhân tham gia.
Đồng thời, phương thức đầu tư cũng cần được lựa chọn linh hoạt. Với những dự án chiến lược, có hiệu quả xã hội rất lớn nhưng khó bảo đảm phương án tài chính để thu hút đầu tư tư nhân, không nên quá máy móc trong việc áp dụng một mô hình. Điều quan trọng là lựa chọn phương thức phù hợp, bảo đảm hiệu quả đầu tư, tiến độ và khả năng phát huy tác động lan tỏa.
Một điểm nữa là hạ tầng phải đi trước một bước trong tổ chức không gian phát triển. Nếu quy hoạch đã xác định một hành lang kinh tế, một cực tăng trưởng hay một vùng sản xuất lớn nhưng hạ tầng kết nối chưa theo kịp thì lợi thế vẫn khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng.
+ Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực quan trọng. Theo bà, đây có phải là điều kiện để các vùng tránh rơi vào vòng lặp khai thác những lợi thế truyền thống?
- Đúng vậy. Những lợi thế truyền thống như đất đai, tài nguyên, lao động hay vị trí địa lý vẫn rất quan trọng, nhưng bản thân nguồn lực không tự động trở thành động lực tăng trưởng. Muốn biến nguồn lực thành giá trị phải có quy hoạch tốt, hạ tầng phù hợp, doanh nghiệp, công nghệ, nhân lực và thị trường.
Với nông nghiệp, không thể chỉ dừng ở việc sản xuất nhiều hơn mà phải hướng đến sản xuất có dữ liệu, ứng dụng công nghệ, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia vào chuỗi phân phối có giá trị cao. Với công nghiệp, phải từng bước nâng vị trí trong chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ và những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Với dịch vụ, dữ liệu và công nghệ có thể tạo ra những mô hình kinh doanh hoàn toàn mới.
Điều quan trọng là mỗi vùng phải tìm được động lực phù hợp với điều kiện của mình. Không thể áp dụng một công thức giống nhau cho tất cả các vùng. Nhưng dù khác nhau về động lực, các vùng vẫn phải được đặt trong một mạng lưới thống nhất để tạo ra sức mạnh cộng hưởng.
