Gợi mở chiến lược mới cho du lịch cộng đồng Thái Nguyên
Những chuyển động sau sáp nhập địa giới 2025 đang mở ra cơ hội định vị lại du lịch cộng đồng Thái Nguyên theo hướng quy mô và bền vững hơn.
Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn quan trọng, khi du lịch cộng đồng hòa vào tiến trình xây dựng nông thôn mới nâng cao và tái cấu trúc không gian phát triển sau sáp nhập địa giới hành chính. Đây được xem là thời điểm bản lề, vừa tạo khí thế mới cho địa phương, vừa mở ra yêu cầu tái định vị mạnh mẽ hơn cho sản phẩm và cách làm du lịch dựa vào cộng đồng.
Trong cuộc trò chuyện với Báo điện tử Đầu tư, ông Vũ Văn Tuyên, Giám đốc Travelogy Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Du lịch Cộng đồng Việt Nam, đã chia sẻ nhiều góc nhìn sâu sắc về nền tảng, bản sắc và con đường mà Thái Nguyên cần bước tiếp nếu muốn trở thành điểm sáng của vùng trung du miền núi phía Bắc.

Ông Vũ Văn Tuyên, Giám đốc Travelogy Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Du lịch Cộng đồng Việt Nam. Ảnh: Chí Cường.
Thưa ông, với kinh nghiệm nhiều năm tham gia Hội Du lịch Cộng đồng Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại Thái Nguyên sau sáp nhập địa giới hành chính?
Ở góc độ của Hội Du lịch Cộng đồng Việt Nam, nhiều năm qua, chúng tôi nhận thấy Thái Nguyên đang bước vào một giai đoạn rất đặc biệt. Việc sáp nhập địa giới hành chính năm 2025 tạo ra thay đổi mạnh trong quản lý, đồng thời mở cơ hội tái cấu trúc toàn bộ không gian phát triển du lịch cộng đồng theo hướng quy mô lớn hơn và kết nối chặt chẽ hơn giữa các vùng.
Thái Nguyên vốn có nền tảng tài nguyên đặc sắc: những không gian chè trung du trải rộng, hệ thống làng nghề cũng như bản sắc văn hóa Tày, Nùng, Dao, và quỹ di sản chiến khu ATK giàu giá trị lịch sử. Trước đây, các giá trị này tồn tại rời rạc theo đơn vị hành chính nhỏ. Khi địa giới được tổ chức lại, các điểm đến được kết nối liền tuyến, hình thành cụm du lịch cộng đồng quy mô huyện hoặc tiểu vùng. Từ đó tạo ra các sản phẩm đủ tầm để đưa ra thị trường.
Một lợi thế khác là du lịch cộng đồng đang trở thành động lực mới của xây dựng nông thôn mới nâng cao. Thái Nguyên có điều kiện để kết hợp kinh tế nông nghiệp, kinh tế du lịch và kinh tế văn hóa theo hướng hỗ trợ nhau. Nhiều mô hình homestay bản địa, trải nghiệm văn hóa dân tộc, du lịch nông nghiệp gắn với cây chè hay làng nghề đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, giúp tăng thu nhập, giữ gìn bản sắc và giảm làn sóng di cư lao động.
Sau sáp nhập, bộ máy quản lý tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quy hoạch thống nhất, đầu tư hạ tầng đồng bộ và triển khai các tiêu chí nông thôn mới nâng cao tại chính những điểm du lịch cộng đồng. Nếu Thái Nguyên kiên định với hướng quy hoạch theo cụm tuyến vùng chè, vùng văn hóa dân tộc, vùng ATK; kết hợp chuyển đổi số điểm đến; đào tạo nhân lực bản địa; và thu hút doanh nghiệp đồng hành trong khi cộng đồng vẫn giữ vai trò trung tâm, tỉnh hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng quốc gia về du lịch cộng đồng giai đoạn 2025-2030.
Thưa ông, những mô hình như Làng văn hóa du lịch Thái Hải, vùng chè Tân Cương, hồ Núi Cốc hay không gian sinh thái Ba Bể đang tạo dấu ấn. Theo ông, điều gì làm nên giá trị khác biệt của các mô hình này?
Điểm chung của các mô hình này nằm ở việc khai thác giá trị bản địa nguyên gốc. Mỗi mô hình đều có “bản sắc lõi” riêng tạo nên sức hút. Thái Hải giữ được tính nguyên bản văn hóa Tày - Nùng trong kiến trúc, phong tục và nhịp sinh hoạt hàng ngày, tất cả do cộng đồng vận hành. Đây là một trong số ít mô hình mà du khách cảm nhận được đời sống thật, không mang yếu tố dàn dựng.
Vùng chè Tân Cương tạo dấu ấn nhờ cảnh quan nông nghiệp đặc thù và thương hiệu chè nổi tiếng của cả nước. Trải nghiệm thu hái, chế biến và thưởng trà gắn với câu chuyện văn hóa đã biến nơi đây thành lợi thế cạnh tranh bền vững của du lịch nông nghiệp. Hồ Núi Cốc hấp dẫn với không gian sinh thái mặt nước rộng, đa dạng sản phẩm giải trí, lưu trú, trải nghiệm; đồng thời có tiềm năng trở thành trung tâm du lịch lớn của vùng trung du.
Không gian Ba Bể dù thuộc Bắc Kạn nhưng về tuyến, vùng lại gắn bó mật thiết với Thái Nguyên. Ba Bể sở hữu giá trị sinh thái, địa chất và bản sắc Mông, Dao, Tày rất độc đáo, bổ trợ hiệu quả cho toàn vùng ATK và trung du phía Bắc.
Tôi cho rằng sức hút từ ba yếu tố: tài nguyên nguyên bản; cộng đồng đóng vai trò chủ thể; và cách kể chuyện bản địa được làm tốt, tạo xúc cảm và niềm tin cho du khách. Nếu duy trì đúng tinh thần nguyên bản - cộng đồng - bền vững, những mô hình này không chỉ giữ được giá trị khác biệt mà còn có thể trở thành thương hiệu mạnh của cả vùng.

Lễ hội Lồng Tồng ở Làng văn hóa du lịch Thái Hải.
Theo ông, du lịch cộng đồng đem lại giá trị lớn nhất cho nông thôn Thái Nguyên ở khía cạnh kinh tế, văn hóa hay chuyển biến tư duy?
Kinh tế, văn hóa hay tư duy đều quan trọng nhưng giá trị quyết định lại nằm ở sự thay đổi trong tư duy của người dân. Kinh tế có thể tăng nhanh khi có khách. Văn hóa được phục hồi khi có nhu cầu trải nghiệm. Tuy nhiên, nếu tư duy cộng đồng không thay đổi thì mô hình rất khó bền vững. Sản phẩm dễ bị thương mại hóa, chất lượng dịch vụ thiếu ổn định hoặc người dân tham gia chỉ theo phong trào.
Khi người dân thay đổi tư duy, từ làm nông thuần túy sang làm dịch vụ; từ sản xuất nhỏ lẻ sang cung cấp trải nghiệm có giá trị, thì kinh tế và văn hóa sẽ tự điều chỉnh theo hướng tích cực. Người dân bắt đầu nhìn thấy giá trị của bản sắc, của môi trường sống sạch đẹp, của sự chuyên nghiệp và tinh thần hợp tác. Đây mới là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên xây dựng mô hình nông thôn mới gắn với kinh tế dịch vụ thay vì phụ thuộc nông nghiệp truyền thống.
Nếu kết hợp tour du lịch cộng đồng với trải nghiệm OCOP như “Một ngày làm người trồng chè Tân Cương” hoặc “Khám phá làng nghề dược liệu Võ Nhai”, theo ông cần điều gì để tạo nên sản phẩm hấp dẫn?
Yếu tố đầu tiên là tính thật và tính nguyên bản. Du khách không muốn những trải nghiệm được dựng lên theo kịch bản có sẵn. Họ muốn hái chè lúc sớm mai, nghe câu chuyện của người sản xuất, hiểu vì sao vùng đất tạo nên hương chè đặc trưng. Tính nguyên bản chính là linh hồn của trải nghiệm.
Yếu tố thứ hai là câu chuyện sản phẩm OCOP được kể sâu sắc. Không chỉ xem và thử, du khách phải được hiểu hành trình của sản phẩm, bản sắc của nghề và giá trị bền vững mà cộng đồng theo đuổi. Chỉ khi sản phẩm mang theo câu chuyện và cảm xúc, nó mới chạm tới du khách.
Yếu tố thứ ba là vận hành chuyên nghiệp. Hướng dẫn viên bản địa cần được đào tạo. Trải nghiệm phải bảo đảm an toàn, vệ sinh và quy trình tiếp đón. Sản phẩm OCOP phải đạt chuẩn chất lượng; đồng thời trải nghiệm cần được thiết kế theo tuyến, phù hợp nhiều nhóm khách. Khi ba yếu tố này hài hòa, sản phẩm sẽ trở thành hành trình văn hóa, nông nghiệp đúng nghĩa.

Một homestay tại bản Pác Ngòi.
Ở góc nhìn chuyên môn, đâu là hạn chế khiến một số mô hình du lịch cộng đồng Thái Nguyên chưa tạo được cú bật?
Vốn, hạ tầng hay nhân lực đều quan trọng nhưng điểm nghẽn lớn nhất lại nằm ở câu chuyện sản phẩm và cách tổ chức giá trị trải nghiệm. Thái Nguyên có tài nguyên tốt, cộng đồng thân thiện, làng nghề đặc sắc. Một số mô hình vẫn dừng lại ở mức có điểm để xem chứ chưa tạo được lý do để ở lại. Khi trải nghiệm đơn điệu, thiếu chiều sâu văn hóa và thiếu câu chuyện bản địa được kể một cách mạch lạc, mô hình khó tạo bản sắc.
Ngược lại, khi câu chuyện sản phẩm rõ ràng, mô hình có thể bứt lên nhanh. Bản sắc văn hóa Tày - Nùng ở Thái Hải, hành trình của chè Tân Cương hay tri thức dược liệu của người Dao ở Võ Nhai đều là những ví dụ. Vốn có thể huy động, hạ tầng có thể bổ sung, nhân lực có thể đào tạo, nhưng bản sắc và câu chuyện sản phẩm phải được định vị ngay từ đầu.
Một thách thức khác là thiếu liên kết vùng và thiếu câu chuyện mạnh để giữ chân du khách. Ông đánh giá ra sao về các mô hình đã làm tốt yếu tố này trên cả nước?
Những địa phương làm tốt đều có hai điểm chung: liên kết vùng chặt chẽ và câu chuyện bản địa nhất quán. Hà Giang tạo chuỗi trải nghiệm theo tuyến Đồng Văn - Mèo Vạc - Quản Bạ, mỗi cộng đồng giữ một sắc thái riêng nhưng cùng kể câu chuyện văn hóa vùng cao. Quảng Nam liên kết giữa Hội An, Trà Quế, Thanh Hà và Cù Lao Chàm trong câu chuyện văn hóa xứ Quảng. Ninh Bình phát triển các mô hình cộng đồng Tràng An - Ninh Hải - Gia Vân theo mạch di sản thiên nhiên và văn hóa, giúp du khách cảm nhận chiều sâu.
Từ những kinh nghiệm đó, Thái Nguyên có thể làm tốt nếu xây dựng câu chuyện vùng rõ ràng, kết nối các điểm đến theo tuyến và bảo đảm mỗi cộng đồng có một sản phẩm thuộc về mình nhưng cùng kể chung câu chuyện của tỉnh.
Theo ông, doanh nghiệp tư nhân có thể đóng vai trò gì trong phát triển du lịch cộng đồng Thái Nguyên thời gian tới?
Doanh nghiệp tư nhân ngày càng đóng vai trò chiến lược. Họ mang đến năng lực tổ chức, kinh nghiệm vận hành, công nghệ và tiêu chuẩn dịch vụ mà cộng đồng thường thiếu. Doanh nghiệp cũng là cầu nối quan trọng đưa sản phẩm ra thị trường thông qua mạng lưới lữ hành và truyền thông.
Khi đầu tư có chọn lọc vào hạ tầng nhẹ, sản phẩm trải nghiệm hay chuyển đổi số, doanh nghiệp tạo lan tỏa và kéo theo nhiều hộ dân cùng hưởng lợi. Quan trọng là doanh nghiệp tôn trọng bản sắc địa phương và đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể. Với cơ chế hợp tác minh bạch và mô hình “cùng làm, cùng hưởng”, doanh nghiệp sẽ trở thành động lực thúc đẩy trong khi cộng đồng vẫn là linh hồn của sản phẩm.































