'Dựng nước đi đôi với giữ nước': Bài học thời đại từ mùa Thu năm 1945
Mùa Thu năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự kiện trọng đại, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Ngay trong thời khắc đầu tiên của chính quyền cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quy luật “Dựng nước đi đôi với giữ nước” đã được nhân dân Việt Nam hiện thực hóa một cách sinh động bằng chính sức mạnh, ý chí và hành động. Đó là một chặng đường lịch sử hào hùng, khi nhân dân vừa đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ để dựng nước, vừa là thành trì vững chắc tiến hành cuộc kháng chiến để giữ nước ngay sau ngày tuyên bố độc lập.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Ảnh: Tư liệu
Kế thừa truyền thống tự cường của dân tộc
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam được viết nên bằng xương máu của các thế hệ tiền nhân thông qua khát vọng hòa bình và độc lập, tự do. Mỗi khi giang sơn đứng trước khó khăn thử thách, tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân lại trở thành giá trị cốt lõi để giữ vững cội nguồn dân tộc. Từ tư tưởng nhân nghĩa mang tính định hướng chiến lược trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách chọn lọc và nâng truyền thống ấy lên một tầm cao mới của thời đại. Người dân mất nước nhận thức sâu sắc rằng, muốn giành được độc lập và xây dựng một nhà nước kiểu mới, phải tự mình đứng lên tổ chức sức mạnh dưới một ngọn cờ chính nghĩa.
Ngày 22/12/1944, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, một phương thức giữ nước mang tính nhân dân sâu sắc đã chính thức được định hình. Đó là lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi giấu, đùm bọc và vì nhân dân mà chiến đấu. Trong chỉ thị thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm nhìn chiến lược về sức mạnh ấy: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[1].
Sự chuẩn bị công phu, bài bản về lực lượng chính trị rộng khắp của hàng triệu quần chúng trong Mặt trận Việt Minh với lực lượng vũ trang nòng cốt đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Đây chính là sự tiếp nối ý chí tự lực, tự cường được trao truyền từ thế hệ cha ông theo dòng lịch sử, tạo tiền đề vững chắc cho cuộc chuyển mình của toàn dân tộc: Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Chớp thời cơ chiến lược để giành độc lập
Tư duy lập quốc và giữ nước của cách mạng Việt Nam trong mùa Thu năm 1945 đạt đến đỉnh cao ở nghệ thuật dự báo và chớp thời cơ chiến lược. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quân và dân ta không thụ động chờ đợi mà chủ động tạo thế, xây dựng lực lượng, chọn đúng thời điểm kẻ thù hoang mang tột độ để đồng loạt đứng lên Tổng khởi nghĩa. Khi thời cơ lịch sử chín muồi vào giữa tháng 8/1945 - thời điểm phát xít Nhật đầu hàng, quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương, Thư kêu gọi khởi nghĩa của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã hiệu triệu toàn dân: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[2].
Chỉ trong vòng nửa tháng, nhân dân Việt Nam đã làm nên một cuộc Tổng khởi nghĩa thành công một cách nhanh chóng, ít đổ máu và giành thắng lợi thiết thực trên phạm vi cả nước. Sự kiện này là câu trả lời đanh thép nhất đập tan mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch khi cho rằng, Nhà nước mới ra đời chỉ là sự “may mắn” từ bối cảnh quốc tế. Chính sự kết hợp tài tình giữa nội lực quần chúng và nghệ thuật chớp thời cơ ngàn năm có một đã giúp nhân dân Việt Nam giành được độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới ở thế chủ động tuyệt đối, tạo nên bước ngoặt vĩ đại.

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Ảnh: Tư liệu
Phát huy tư tưởng “lấy dân làm gốc”
Soi chiếu lịch sử dân tộc, các triều đại có thể giữ vững giang sơn trước thế lực ngoại bang hùng mạnh là nhờ biết “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Trong kỷ nguyên mới, nhân dân Việt Nam đã thực sự trở thành chủ nhân của một chính quyền thuộc về mình và vì mình phục vụ. Đi đôi với quá trình lập quốc, khát vọng và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đã được khẳng định trước toàn thế giới thông qua lời đọc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[3].
Cụ thể hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc” ngay sau ngày độc lập, tại phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất Chính phủ lâm thời quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để nhân dân bầu ra chính quyền hợp pháp của mình. Vượt qua mọi sự chống phá của thù trong, giặc ngoài, cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 và sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên năm 1946 là minh chứng cho thấy, nhân dân Việt Nam đã tự khẳng định quyền làm chủ đất nước. Sự chính danh về mặt pháp lý kết hợp với một chính phủ do nhân dân bầu ra đã tạo nên một “thành trì lòng dân” trước sóng gió “thù trong, giặc ngoài”.
Tựu trung lại, từ sự kế thừa và phát huy cao độ truyền thống yêu nước trong giành chính quyền, tới tinh thần quyết tâm, quả cảm bảo vệ nền độc lập của nhân dân Việt Nam trong mùa Thu năm 1945 là bài học thời đại sâu sắc, là kim chỉ nam soi đường cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 540.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 594.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 3.
Thượng tá, Thạc sĩ Nguyễn Hà Hải, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, Bộ Quốc phòng
