Đồng Bằng - mạch nguồn giữ nước và dựng xây

Tên xã Đồng Bằng mới được xác lập trên bản đồ hành chính từ năm 2025, nhưng căn cước của miền đất này đã được bồi đắp qua nhiều thế kỷ. Từ Đào Động, đền Đức Vua Cha, bến đò bên sông Hóa đến những làng quê từng dốc thóc, tiễn quân ra trận, lịch sử đã tạo nên một mạch nguồn bền bỉ: biết giữ đất, trọng nghĩa, hiếu học và không chịu khuất phục trước gian nan.

Tên đất bước ra từ thư tịch

Đồng Bằng không bắt đầu từ một nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính.

Trước khi trở thành tên chung của bốn xã An Cầu, An Ấp, An Lễ và An Quý, hai tiếng Đồng Bằng đã sống trong tiếng gọi dân gian, trong bến đò bên sông Hóa, trong lễ hội tháng Tám và trong tâm thức cư dân vùng Đào Động. Tên đất ấy được bồi bằng phù sa, gìn giữ qua đình, đền, chợ, bến, qua những mùa lúa và những cuộc binh đao. Văn bản hành chính xác lập một địa giới mới. Lịch sử và văn hóa trao cho địa giới ấy căn cước.

Xã Đồng Bằng được hình thành trên cơ sở sáp nhập của bốn xã An Ấp, An Quý, An Lễ và An Cầu của tỉnh Thái Bình (cũ). Ảnh: Duy Trìu

Xã Đồng Bằng được hình thành trên cơ sở sáp nhập của bốn xã An Ấp, An Quý, An Lễ và An Cầu của tỉnh Thái Bình (cũ). Ảnh: Duy Trìu

Muốn hiểu căn cước Đồng Bằng, phải lần theo những lớp chữ cũ trong Đại Nam nhất thống chí, Thái Bình phong vật chí, Địa dư huyện Quỳnh Côi, rồi đối chiếu với thần tích, sắc phong, văn bia, dấu tích khảo cổ và ký ức dân gian. Chính sử, địa phương chí và truyền thuyết có giá trị khác nhau. Đặt đúng từng nguồn vào vị trí của nó, hình hài vùng đất mới dần hiện rõ.

Thái Bình phong vật chí do Phạm Văn Thụ soạn năm 1900, khi ông làm Tri phủ Tiên Hưng, dành một phần cho Phân phủ Thái Ninh gồm Phụ Dực và Quỳnh Côi, đồng thời khảo tả địa danh, phong tục, nhân vật, cựu tích và các cuộc chống Pháp. Dưới mặt ruộng thấp và mạng lưới sông ngòi là nhiều tầng văn hóa, nhiều dấu chân khai phá, trị thủy, lập làng và giữ nước.

Trong Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, phần tỉnh Nam Định, mục linh tích, đền Đào Động được ghi là nơi thờ thủy thần Vĩnh Công Đại Vương. Bản tiếng Việt được sử dụng để đối chiếu trong bài do Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, in trong tập 3 tại Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, năm 1992. Tư liệu triều Nguyễn đặt ngôi đền vào hệ thống địa lý và tín ngưỡng chính thức của vùng trước khi tỉnh Thái Bình được thành lập năm 1890. Địa danh hành chính thay đổi, nhưng đền, dòng sông và cộng đồng thờ tự tiếp tục giữ mạch ký ức. Đó là lý do một ngôi đền có thể trở thành chiếc neo văn hóa qua nhiều lần chia tách, hợp nhất.

Lớp tư liệu gần hơn nằm trong Địa dư huyện Quỳnh Côi, in tại Hà Nội năm 1933. Trên bìa sách, tác giả tự ghi rõ: “Ngô Vi Liễn, Tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình”. Đây không phải công trình của một người chỉ đọc hồ sơ tại công đường. Đó là kết quả quan sát và khảo cứu của viên tri huyện đang trực tiếp trị nhậm địa phương.

Ngô Vi Liễn sinh năm 1894 tại Tả Thanh Oai, Hà Đông, trong một gia đình Nho học. Ông học Trường Bưởi, Trường Thông ngôn, tốt nghiệp Cao đẳng Luật học Hà Nội, rồi làm việc tại Sở Thư viện và Lưu trữ, tham gia Hội Trí Tri, dạy quốc ngữ buổi tối. Từ năm 1928 đến 1939, ông lần lượt làm Tri huyện Cẩm Giàng, Quỳnh Côi, Bình Lục và Võ Giàng. Ông đi xuống cơ sở, hỏi dân, ghi phong tục, cổ tích, đường sá, sông ngòi, trường học, chợ búa và đền miếu.

Ngoài các sách địa dư, ông còn viết Viết Quốc ngữ cho đúng, Nhật dụng thông thư, tham gia biên soạn Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ và danh mục làng xã Bắc Kỳ. Năm 1939, sau bất đồng với viên Công sứ Bắc Ninh, ông rời chức tri huyện, trở lại cơ quan lưu trữ. Một đời công vụ ngắn nhưng để lại di sản bền: biến tri thức địa phương thành tài sản chung.

Trong cuốn địa dư năm 1933, từ chợ Láp đến đò Đồng Bằng có con đường dài 2.100 mét. Một dòng ghi chép ngắn mở ra cả không gian sinh tồn: người đi chợ, thuyền cập bến, lúa gạo và hàng hóa được trao đổi, tin tức theo bước chân mà lan từ làng này sang làng khác. Cam Mỹ khi đó là một xã thuộc tổng Tiên Bá, gồm thôn Cam Mỹ, tục gọi là làng Mía, và thôn Xuân Lai, tục gọi là làng Lai. An Ấp là một thôn của xã An Ký, tục gọi là làng Uốc. Lai Ổn có chợ Láp và tuyến đường đi đò Đồng Bằng. Các địa danh từng thuộc những đơn vị hành chính khác nhau, nhưng sông, chợ, đường và bến đò đã nối đời sống của chúng từ rất lâu.

Ngày 1/7/2025, xã Đồng Bằng chính thức hoạt động trên cơ sở hợp nhất An Cầu, An Ấp, An Lễ và An Quý. Một địa danh có chiều sâu đã được đặt vào trung tâm của tương lai, với trách nhiệm quy tụ lòng dân và kiến tạo con đường phát triển có bản sắc.

Đất thành đồng trong thế trận giữ nước

Trái tim văn hóa của vùng đất là đền Đồng Bằng, nơi nhân dân phụng thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, còn được gọi là Vĩnh Công Đại Vương. Ngôi đền đứng trên đất Đào Động, giữa một không gian sông nước đã nuôi sống cộng đồng và nuôi dưỡng tín ngưỡng từ rất sớm.

Các nghiên cứu về di sản ghi nhận dấu vết gạch Hán trong và ngoài làng, gợi mở lịch sử cư trú lâu đời. "Địa chí Thái Bình", do Nguyễn Quang Ân và Phạm Minh Đức đồng chủ biên, tập thể tác giả biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành tại Hà Nội năm 2010; "Ngàn năm đất và người Thái Bình", công trình tập thể do Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình tổ chức biên soạn và xuất bản tại Thái Bình năm 1989; cùng các khảo cứu của ngành di sản đã đặt Đào Động trong không gian phòng thủ ven sông Hóa thời Trần. Các thư tịch phải được đọc cùng dấu tích tại chỗ, không lấy truyền thuyết thay chính sử, cũng không gạt ký ức dân gian ra ngoài lịch sử văn hóa.

Đền Đồng Bằng thuộc xã Đồng Bằng (tỉnh Hưng Yên) là nơi phụng thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình.

Đền Đồng Bằng thuộc xã Đồng Bằng (tỉnh Hưng Yên) là nơi phụng thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình.

Thần tích và truyền thuyết địa phương nhắc đến Hưng Đạo Vương, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa, chuyện lập đồn, luyện quân, tích trữ lương thảo. Một cách giải thích lưu truyền trong vùng cho rằng Đồng Bình mang nghĩa bức thành đồng, về sau tên gọi chuyển thành Đồng Bằng. Giả thuyết ấy hấp dẫn, nhưng vẫn cần khảo chứng thêm về văn bản, tự dạng và niên đại. Giá trị chắc chắn hơn nằm ở ký ức cộng đồng: cư dân Đào Động từ lâu đã nhìn quê mình như một vị trí trọng yếu trong thế trận giữ nước.

Đền Đức Vua Cha không đơn thuần là nơi cầu phúc. Kiến trúc, điêu khắc, nghi lễ, hát văn, bơi chải và lễ hội từ ngày 20 đến 26/8 âm lịch tạo thành một bảo tàng sống của văn minh sông nước. Năm 2016, lễ hội đền Đồng Bằng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Danh hiệu xác nhận giá trị, nhưng không thể thay cộng đồng gìn giữ và trao truyền di sản cho lớp trẻ.

Đồng Bằng giữ được một điều đặc biệt: trong đời sống tâm linh luôn có ký ức giữ nước. Dòng sông mang phù sa cũng từng là đường cơ động. Ngôi đền thờ thần chủ sông nước đồng thời lưu truyền chuyện tập hợp binh lương. Làng quê làm lúa nhưng không khép kín sau lũy tre. Khi non sông gặp nạn, người nông dân rời tay cày để cầm vũ khí. Hết giặc, họ trở lại đồng ruộng, dựng mái nhà, khơi mương máng. Giữ nước và dựng xây chưa bao giờ là hai câu chuyện tách rời trên vùng đất này.

Mạch nguồn ấy đi qua nhiều thế kỷ rồi bừng lên mạnh mẽ trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, Thái Bình trở thành hậu phương lớn của miền Bắc. Khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” ra đời từ chính quê lúa, rồi lan rộng như lời thề hành động. Tư liệu Báo Quân đội nhân dân ghi năm 1965 Thái Bình đóng góp 80.760 tấn thóc; năm 1966 là 84.749 tấn; năm 1967 là 101.758 tấn. Năm 1968 mất mùa, tỉnh vẫn đóng góp 69.843 tấn. Theo Báo Nhân Dân, trong mười năm từ 1965 đến 1974, Thái Bình đóng góp hơn một triệu tấn thóc và có hơn 154 nghìn lượt thanh niên nhập ngũ.

Những con số ấy mang hơi ấm và cả nỗi đau. Mỗi tấn thóc đi ra từ đôi vai người ở lại. Mỗi người lính lên đường để lại phần việc đồng áng và người mẹ nén nước mắt. Ruộng không nghỉ vì chiến trường cần lương thực. Hạt thóc và người lính cùng đi ra tiền tuyến, một bên nuôi sức quân, một bên trực tiếp làm nên chiến thắng.

Niềm tự hào về quê hương năm tấn không nằm ở danh xưng. Nó nằm ở năng lực biến cái nghèo thành sức mạnh, biến gian khổ thành trách nhiệm, biến từng thửa ruộng thành một phần của thế trận nhân dân. Thái Bình chỉ chiếm một phần nhỏ diện tích đất đai miền Bắc nhưng đã gánh một phần rất lớn nghĩa vụ với tiền tuyến. Đó là phẩm giá của hậu phương, đó cũng là khí chất Đồng Bằng.

Từ miền chiêm trũng đến dòng sông tri thức

Địa hình Quỳnh Phụ thấp trũng. Nước từng là nguồn sống, đồng thời là phép thử khắc nghiệt. Mưa lớn có thể biến cánh đồng thành biển nước. Đường làng lầy lội, sản xuất phụ thuộc nhiều vào thủy lợi, một vụ mùa thất bát có thể kéo theo thiếu đói. Nhưng chữ “trũng” không chỉ dùng để mô tả địa hình.

Trong bút ký Vùng chiêm trũng, đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày 4/11/2009, nhà báo Nguyễn Văn Minh từng nhìn thẳng vào những điểm trũng của Quỳnh Phụ về kinh tế và đời sống xã hội, nhắc lại một thời bộ đội về “ba cùng” với dân, góp phần đưa vùng quê qua bất ổn để trở lại nhịp phát triển.

Bài báo không né nghèo khó và tổn thương. Nó tìm sức hồi sinh từ sự gần dân, dựa vào dân, từ kỷ luật của người lính và khả năng tự đứng dậy của cộng đồng. Cách nhìn ấy đến nay vẫn còn giá trị: muốn Đồng Bằng vươn lên, trước hết phải nhận đúng chỗ thấp của mình, trong địa hình, hạ tầng, chất lượng nhân lực và năng lực tổ chức phát triển.

Bộ tiểu thuyết Bão biển của nhà văn Chu Văn gợi lại những phức tạp của nông thôn vùng châu thổ, nơi công tác vận động quần chúng không thể thành công nếu cán bộ xa dân, không hiểu đời sống và niềm tin của dân. Bài học của văn chương gặp lịch sử địa phương ở một điểm: lòng dân là nơi sâu nhất của mọi thế trận.

Đồng đất khó nhọc lại nuôi một truyền thống hiếu học bền bỉ. Bài viết "Mái trường mang tên loài ngọc quý", đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày 13/11/2012, kể câu chuyện Trường Trung học phổ thông Quỳnh Côi đi lên từ những dãy nhà cấp bốn, những đôi chân học trò tím tái vì rét, những năm thiếu đói và cảnh thầy trò cùng nhân dân đắp đê chống trận lụt lịch sử năm 1971. Ngôi trường nghèo đã bước vào nhóm trường có kết quả thi đại học, cao đẳng cao của cả nước. Điều đáng nhớ hơn một thứ hạng là sức mạnh của các thế hệ cựu học sinh hướng về trường cũ, lập quỹ, trao thưởng, khuyến học, đưa sách về làng.

Bài báo kết bằng niềm mong mỏi “dòng sông nhỏ biết chảy mải miết về phía mặt trời sẽ tìm được ra biển lớn”. Dòng sông ấy là An Lộng trước mái trường, cũng là ẩn dụ cho đường đi của tri thức ở một huyện quê lúa. Nước tìm ra biển nhờ không ngừng chảy. Con người thoát khỏi điểm trũng nhờ học tập, liên kết và khát vọng vượt khỏi giới hạn cũ.

Đất Quỳnh Phụ nuôi lớn nhiều nhà giáo, người lính, nhà báo, kỹ sư, doanh nhân đi khắp mọi miền. Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Với Đồng Bằng, sự hóa thân ấy phải vượt khỏi hoài niệm, trở thành học bổng, tủ sách, kinh nghiệm quản trị, ý tưởng kinh doanh, công trình nghiên cứu, tiếng nói bảo vệ di sản và cơ hội việc làm cho người trẻ.

Những người đi xa cùng hướng về nguồn cội

Người lính trưởng thành từ mảnh đất này không bước vào quân ngũ với hành trang của một cá nhân đơn độc. Sau lưng anh là tiếng trống hội Đào Động, lời kể về những lần giữ đất, dáng mẹ lom khom trên ruộng, những đoàn trai làng nối nhau lên đường và lời nhắc đã nhập vào máu thịt quê hương: việc nước không thể thiếu phần mình.

Quân ngũ rèn bản lĩnh, nhưng nhiều phẩm chất của người lính đã được chuẩn bị từ căn bếp của người mẹ, kỷ luật gia đình, lòng tự trọng làng xóm và bài học phải sống cho ra người. Thanh niên rời ruộng đồng có thể bỡ ngỡ trước súng đạn và điều lệnh, nhưng đã biết chịu gian khổ, quý hạt gạo, đứng trong đội ngũ và không bỏ mặc phần việc chung.

Giữa Trường Sa đầy nắng gió, ở biên giới Tây Nam hay trong các đơn vị đóng quân xa, hình ảnh quê lúa hiện về không làm mềm ý chí. Nó nhắc người lính điều mình bảo vệ. Tổ quốc không phải ý niệm treo trên cao. Tổ quốc hiện ra trong dáng đất cụ thể, trong ngôi nhà có người đang chờ, trong bờ tre, con ngõ, mái trường và ngôi đền nhiều thế hệ cùng gìn giữ.

Nghề báo gặp đời lính ở kỷ luật với sự thật. Trước vấn đề lớn của đất nước, nhà báo không thể đứng ngoài. Trước phận người bé nhỏ, ngòi bút không được vô cảm. Trước cái sai, im lặng để giữ an toàn cho mình không phải lựa chọn đúng đắn.

Mỗi người con Đồng Bằng đi xa đều mang theo một phần trách nhiệm. Nhà khoa học có thể giúp giải bài toán môi trường, giống cây trồng, chuyển đổi số. Doanh nhân có thể mở thị trường, tạo việc làm, góp quỹ khuyến học. Nhà giáo nối trường làng với tri thức mới. Người làm văn hóa tìm lại văn bản cũ, ghi lời nghệ nhân, phục dựng ký ức đang phai. Mọi con đường trở về phải gặp nhau ở giá trị đem lại cho cộng đồng.

Quê hương không giữ người bằng sự níu kéo. Quê hương trao một điểm tựa để người đi xa vẫn nhận ra điều phải bảo vệ và việc cần làm. Một cộng đồng mạnh không đo bằng số người ở lại, mà bằng khả năng kết nối trí tuệ, nguồn lực và tình cảm của cả người ở quê lẫn người xa quê vào mục tiêu chung.

Để Đồng Bằng không bằng phẳng mà vươn cao

Tự hào về Đồng Bằng không thể dừng ở việc kể tên đất cổ, ca ngợi đền thiêng hay nhắc lại một khẩu hiệu hào hùng. Quá khứ chỉ thật sự sống khi tham gia kiến tạo con người hôm nay. Một xã mới mang tên Đồng Bằng phải trả lời câu hỏi lớn hơn việc hợp nhất địa giới: lấy gì để tạo sức mạnh chung cho cộng đồng vừa được tổ chức lại?

Câu trả lời trước hết nằm ở căn cước văn hóa. Hợp nhất không có nghĩa san phẳng khác biệt giữa An Cầu, An Ấp, An Lễ, An Quý và các làng, thôn trong vùng. Sắc phong, văn bia, gia phả, bản đồ, sách địa dư, ảnh cũ, lời kể cao niên và tri thức nghệ nhân phải được kiểm kê, số hóa, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải. Chậm một thế hệ, một lớp ký ức có thể đứt.

Tên Đồng Bằng đã đi từ bến đò vào sách địa dư, từ ký ức dân gian lên bản đồ hành chính. Chặng đường tiếp theo phải đưa tên đất ấy thành địa chỉ của văn hóa, giáo dục, kinh tế và lòng nhân ái.

Tên Đồng Bằng đã đi từ bến đò vào sách địa dư, từ ký ức dân gian lên bản đồ hành chính. Chặng đường tiếp theo phải đưa tên đất ấy thành địa chỉ của văn hóa, giáo dục, kinh tế và lòng nhân ái.

Lịch sử địa phương phải trở về trường học bằng hình thức sinh động. Học sinh cần được đứng trước bến sông để hiểu vai trò đò Đồng Bằng, đọc một trang địa dư cũ để biết Cam Mỹ, Xuân Lai, An Ấp, Lai Ổn từng được ghi chép ra sao, vào đền nghe giới thiệu có căn cứ về Đức Vua Cha, gặp cựu chiến binh để hiểu khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã được thực hiện bằng mồ hôi và mất mát thế nào. Một bài học như vậy gieo lòng yêu quê sâu hơn nhiều lời hô hào.

Đền Đồng Bằng và lễ hội là nguồn lực cho du lịch văn hóa, nhưng sự linh thiêng không phải món hàng. Cần hệ thống thuyết minh chuẩn xác, bản đồ số, tuyến trải nghiệm gắn đền với đường sông, làng cổ, ẩm thực và sản vật. Người dân phải là chủ thể hưởng lợi. Văn hóa làm tăng giá trị kinh tế, kinh tế tạo thêm nguồn lực gìn giữ văn hóa.

Vùng đất từng nổi tiếng nhờ hạt thóc không thể mãi chỉ bán sản phẩm thô và sức lao động rẻ. Nông nghiệp cần đi vào chất lượng, chế biến, truy xuất nguồn gốc và thị trường. Nghề truyền thống, thương mại, dịch vụ, du lịch cần được tổ chức thành chuỗi. Người trẻ phải nhìn thấy cơ hội lập nghiệp ngay trên quê mình. Một địa phương biết kết nối ký ức với công nghệ, nông sản với thương hiệu, lễ hội với dịch vụ văn minh sẽ tạo được giá trị mới mà không đánh mất mình.

Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Với Đồng Bằng hôm nay, yên dân là để người dân tham gia quyết định tương lai, được hưởng lợi từ phát triển, được tôn trọng ký ức cộng đồng và có cơ hội làm giàu chính đáng. Mỗi dự án phải làm đời sống tốt hơn, giữ được tài sản văn hóa, môi trường và tạo năng lực phát triển lâu dài.

Đồng Bằng cần một tầm nhìn coi di sản là nền tảng tinh thần, con người là vốn quý, tri thức là đòn bẩy, liên kết cộng đồng là sức mạnh. Chỉ mở đường mà không mở cơ hội, xây công trình mà không xây năng lực, tổ chức lễ hội mà không bồi đắp văn hóa thì diện mạo mới lên nhưng sức sống bên trong chưa chắc mạnh hơn.

Đồng Bằng hôm nay là một xã mới trên bản đồ tỉnh Hưng Yên. Đào Động, đền Đức Vua Cha, An Ấp, Cam Mỹ, Xuân Lai, Lai Ổn, chợ Láp và bến đò cũ đã cùng bước vào không gian phát triển mới. Lịch sử không đòi hậu thế lặp lại quá khứ. Lịch sử đòi hậu thế sống xứng đáng với những gì đã nhận. Cha ông giữ đất bằng gươm giáo, con đê, hạt thóc và sự cố kết làng xã. Thế hệ hôm nay giữ đất bằng năng lực phát triển, giáo dục, văn hóa và một nền kinh tế đủ mạnh để người dân sống tốt trên quê hương; giữ ký ức trước lãng quên, giữ môi trường trước cách làm ăn ngắn hạn, giữ niềm tin bằng hiệu quả thực chất.

Người lính đi ra từ Đồng Bằng mang theo truyền thống không thiếu người khi Tổ quốc cần. Người nông dân mang theo lời thề không thiếu thóc khi tiền tuyến cần. Người làm báo đi ra từ mảnh đất ấy không thể thiếu tiếng nói trước sự thật và lẽ phải. Mỗi thời đại đặt ra một mặt trận khác nhau, nhưng phẩm giá không đổi: nhận việc khó về mình, lấy lợi ích chung làm thước đo, không cúi đầu trước thử thách.

Tên Đồng Bằng đã đi từ bến đò vào sách địa dư, từ ký ức dân gian lên bản đồ hành chính. Chặng đường tiếp theo phải đưa tên đất ấy thành địa chỉ của văn hóa, giáo dục, kinh tế và lòng nhân ái. Khi di sản được trao lại cho tuổi trẻ, hạt lúa được nâng thành giá trị, lễ hội nuôi dưỡng văn hóa, người đi xa tìm được cách góp sức cho quê nhà, mạch nguồn quá khứ sẽ chảy thẳng vào tương lai.

Mỗi người hôm nay phải chung tay dựng xây quê hương trong niềm tự hào về dư địa phát triển mới, trong hình hài truyền thống cũ. Đồng Bằng từng nuôi quân bằng hạt thóc, nuôi chí lớn bằng nghĩa làng và tiễn lớp lớp người con ra trận.

Đồng Bằng hôm nay phải nuôi khát vọng phát triển, nuôi người tài, nuôi sức sáng tạo và dựng nên một miền quê đáng sống. Để một vùng đất mang tên Đồng Bằng không bằng phẳng trong khát vọng, mà vươn cao bằng chính chiều sâu lịch sử, văn hóa và con người của mình.

Đại tá, Nhà báo Nguyễn Văn Minh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/dong-bang-mach-nguon-giu-nuoc-va-dung-xay-471229.html