Đền thờ Khúc Thừa Dụ – Dấu son mở nền tự chủ dân tộc
Xã Khúc Thừa Dụ (TP Hải Phòng) là địa danh mới gắn với di tích Đền thờ Khúc Thừa Dụ tại thôn Cúc Bồ (trước là huyện Ninh Giang, Hải Dương). Đây là công trình tâm linh tôn vinh vị anh hùng dân tộc đã có công mở nền tự chủ cho Việt Nam vào đầu thế kỷ X, đặt nền móng cho tiến trình giành lại độc lập sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
Vùng đất mang tên người mở nền tự chủ
Từ ngày 1/7/2025, xã Khúc Thừa Dụ chính thức đi vào hoạt động theo mô hình chính quyền 2 cấp trên cơ sở sáp nhập các xã Bình Xuyên, Hồng Phong và Kiến Phúc (trước đó là Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương cũ).
Việc lựa chọn tên gọi Khúc Thừa Dụ cho đơn vị hành chính mới không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn thể hiện sự tri ân đối với vị hào trưởng đất Hồng Châu – người đã chớp thời cơ lịch sử, giành quyền tự chủ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
Sau sáp nhập, xã Khúc Thừa Dụ có diện tích gần 29 km², dân số trên 34.000 người, nằm bên bờ sông Luộc – phụ lưu quan trọng của sông Hồng, đền thờ Khúc Thừa Dụ được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 15.000m², phía trước đình Cúc Bồ.

Đền thờ Khúc Thừa Dụ nhìn ra đê sông Luộc, một nhánh của sông Hồng.


Lối vào đền thờ qua cây cầu đá bắc qua hồ sen.


Khu vực sân trước khi vào đền thờ.


Bức phù điêu ghi công cuộc giành lại độc lập, tự chủ của anh hùng dân tộc Khúc Thừa Dụ.
Đặc biệt, năm 1999, trong quá trình nạo vét hồ sen trước đình Cúc Bồ, người dân phát hiện nhiều hiện vật có giá trị, trong đó có ngói ống khắc chữ Hán “Khúc Miếu”. Kết quả khai quật khảo cổ cho thấy những hiện vật này có niên đại cuối thế kỷ X, khẳng định nơi đây từng tồn tại công trình thờ tự dòng họ Khúc từ rất sớm.
Năm 2004, tỉnh Hải Dương (trước đây) khởi công xây dựng đền thờ; đến năm 2009, công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng, trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng của địa phương.
Ba đời họ Khúc và bước ngoặt lịch sử
Đền thờ tôn vinh ba nhân vật lịch sử thuộc dòng họ Khúc: Khúc Thừa Dụ (Khúc Tiên Chúa); Khúc Hạo (Khúc Trung Chúa); Khúc Thừa Mỹ (Khúc Hậu Chúa).
Đầu thế kỷ X, khi nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ (hào trưởng đất Hồng Châu) đã nắm bắt thời cơ, giành quyền kiểm soát phủ Tống Bình (Đại La) và tự xưng Tiết độ sứ. Trước tình thế không thể can thiệp sâu, triều đình phương Bắc buộc phải công nhận chức vị của ông. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt lịch sử, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ tự chủ lâu dài cho dân tộc.
Kế tục sự nghiệp của cha, Khúc Hạo đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng nhằm củng cố nền tự chủ non trẻ. Ông tổ chức lại bộ máy hành chính theo hướng gần dân, lập sổ hộ khẩu để quản lý dân cư, chia lại đơn vị hành chính đến cấp xã, giảm tô thuế, bãi bỏ nhiều thứ lao dịch nặng nề. Chính sách “khoan dung, giản dị” giúp nhân dân ổn định đời sống, tạo nền tảng vững chắc cho chính quyền tự chủ.
Sau này, các sử gia coi Khúc Hạo là nhà cải cách đầu tiên trong lịch sử dân tộc. GS Trần Quốc Vượng từng có so sánh độc đáo khi cho rằng, nếu Khúc Thừa Dụ là người mở cửa giành lại quyền tự chủ, thì Khúc Hạo chính là người đặt nền móng xây dựng một thiết chế quản lý quốc gia theo tinh thần độc lập, tự chủ và vì dân – một bước đi có ý nghĩa lâu dài đối với tiến trình hình thành nhà nước phong kiến Việt Nam.

Chính điện thờ ba nhân vật lịch sử thuộc dòng họ Khúc.


Người dân đến lễ tại đền thờ Khúc Thừa Dụ.

Với ý nghĩa lịch sử trong quá trình giành lại độc lập, tử chủ, tên Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo được đặt tên một số tuyến phố của Hà Nội.

Bằng xếp hạng di tích quốc gia.

Du khách chụp ảnh, tham quan đền thờ Khúc Thừa Dụ đầu xuân Bính Ngọ 2026
Dù sự nghiệp họ Khúc kết thúc vào năm 930 khi Nam Hán xâm lược, nhưng gần 30 năm tự chủ đã trở thành tiền đề cho các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê sau này.
Đền được xây dựng theo kiểu chữ Công (I), gồm tiền tế, trung từ và hậu cung. Toàn bộ hệ khung làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi, các mảng chạm khắc mô phỏng phong cách truyền thống thời hậu Lê.
Trục thần đạo bố cục đăng đối theo hướng Bắc – Nam, phía trước là hồ sen, giếng mắt rồng, hai dãy tả vu – hữu vu và hệ thống phù điêu đá xanh tái hiện cảnh nhân dân tụ nghĩa theo Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ. Hậu cung đặt tượng ba vị chúa họ Khúc trong không gian chồng diêm cổ các, tạo chiều sâu linh thiêng.
Hằng năm, lễ hội được tổ chức vào ngày 23/7 âm lịch – ngày mất của Khúc Thừa Dụ. Phần lễ trang trọng với tế cáo yết, đọc chúc văn, trống khai hội; phần hội sôi nổi với các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ tướng, kéo co, pháo đất, thi gói bánh chưng…
Lễ hội không chỉ là dịp tri ân công lao các vị anh hùng họ Khúc mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc cho thế hệ trẻ, gắn kết cộng đồng cư dân vùng đất Cúc Bồ xưa.
Bài, ảnh: XC/Báo Tin tức và Dân tộc































