Để học sinh dân tộc thiếu số có những bước tiến xa hơn

Giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang đặt ra thách thức lớn hơn là, làm thế nào để mỗi học sinh học tốt, học tiếp, có kỹ năng nghề nghiệp và trở thành nguồn lực phát triển cho chính quê hương mình.

Các số liệu gần đây cho thấy, tỷ lệ đi học của trẻ em DTTS đã cải thiện rõ rệt. Ảnh: Ngọc Thu

Các số liệu gần đây cho thấy, tỷ lệ đi học của trẻ em DTTS đã cải thiện rõ rệt. Ảnh: Ngọc Thu

Chính sách cần bước chuyển mới

Trong nhiều năm qua, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, luôn là một trong những ưu tiên lớn của Đảng và Nhà nước.

Từ hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, chính sách hỗ trợ học sinh vùng đặc biệt khó khăn, chính sách đối với học sinh DTTS rất ít người, đến miễn giảm học phí, hỗ trợ ăn ở, sách vở, đào tạo nghề và đào tạo cán bộ người DTTS, nhiều chính sách đã góp phần mở rộng đáng kể cơ hội học tập cho trẻ em ở những địa bàn khó khăn nhất.

Nhìn từ thành quả phổ cập, đây là một chặng đường rất đáng ghi nhận. Nhiều bản làng trước đây thiếu lớp học, thiếu giáo viên, thiếu điều kiện học tập, nay trẻ em đã được đến trường đều hơn, được học trong những ngôi trường kiên cố hơn, có điều kiện tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông tốt hơn.

Đó là nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, giữa vùng đồng bào DTTS với mặt bằng chung của cả nước.

Tuy nhiên, giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến năm 2035 đặt ra một yêu cầu mới. Chính sách giáo dục vùng đồng bào DTTS không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu “có trường, có lớp, có học sinh đi học”.

Vấn đề trung tâm hiện nay là chất lượng học tập, khả năng chuyển tiếp lên các cấp học cao hơn, năng lực nghề nghiệp, kỹ năng số, khả năng tham gia thị trường lao động và năng lực tự phát triển của thế hệ trẻ DTTS.

Nói cách khác, chính sách cần chuyển từ có bước chuyển đột phá từ tiếp cận “hỗ trợ đi học” sang tiếp cận “đầu tư vào con người”.

Khi khó khăn không chỉ nằm ở khoảng cách đến trường

Các số liệu gần đây cho thấy, tỷ lệ đi học của trẻ em DTTS, nhất là ở cấp tiểu học, đã cải thiện rõ rệt. Đây là kết quả của quá trình đầu tư lâu dài vào hạ tầng trường lớp, chính sách hỗ trợ học sinh, sự nỗ lực của địa phương, thầy cô giáo và cộng đồng.

Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn, một dạng khoảng cách khác lại xuất hiện khá rõ: Khoảng cách về chất lượng học tập.

Với nhiều học sinh DTTS, tiếng Việt không phải là ngôn ngữ đầu đời. Khi vào lớp 1, các em không chỉ học chữ, học toán, học tự nhiên - xã hội, mà còn phải học bằng một ngôn ngữ chưa thật sự thành thạo.

Nếu không được hỗ trợ đúng cách, trẻ dễ gặp khó khăn ngay từ những năm đầu tiểu học. Khoảng cách nhỏ ở lớp 1, lớp 2 có thể tích lũy thành khoảng cách lớn ở cuối tiểu học, rồi tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến quá trình theo học ở cấp THCS và THPT.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, cần coi năng lực đọc hiểu tiếng Việt ở khoảng cuối lớp 3 là một chỉ báo đặc biệt quan trọng. Một học sinh nếu không đọc hiểu tốt ở cuối lớp 3 sẽ rất khó học tốt ở các lớp sau.

Đây không chỉ là vấn đề chuyên môn của ngành giáo dục, mà là vấn đề chiến lược của chính sách dân tộc và phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Chính sách giáo dục vùng đồng bào DTTS và miền núi vì thế cần quan tâm nhiều hơn đến giai đoạn mầm non và ba năm đầu tiểu học. Đó là “cửa sổ vàng” để phát triển ngôn ngữ, tư duy, sức khỏe, dinh dưỡng, thói quen học tập và sự tự tin của trẻ.

THPT và giáo dục nghề nghiệp - điểm chuyển then chốt của nguồn nhân lực

Nếu tiểu học là nền móng, thì THCS và THPT là giai đoạn quyết định khả năng bước vào thị trường lao động có kỹ năng. Đây cũng là lúc khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực có khả năng bộc lộ rõ nhất.

Sau tiểu học, học sinh vùng đồng bào DTTS và miền núi phải đối mặt với nhiều rào cản hơn: Trường xa hơn, chi phí học tập cao hơn, điều kiện gia đình khó khăn hơn, nguy cơ lao động sớm, nghỉ học sớm, di cư lao động hoặc kết hôn sớm.

Với học sinh nữ ở một số địa bàn khó khăn, rào cản còn lớn hơn do áp lực gia đình, tập quán và khoảng cách an toàn khi đi học xa.

Do đó, nếu không có chính sách can thiệp mạnh từ lớp 6 đến lớp 12, rất khó tạo được bước đột phá về chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Mục tiêu không chỉ là giữ học sinh ở lại trường, mà là giúp các em có một lộ trình rõ ràng sau THCS: Học tiếp THPT, học chương trình THPT định hướng nghề nghiệp, học nghề chất lượng cao, hoặc tham gia mô hình vừa học văn hóa vừa học nghề.

Phân luồng giáo dục chỉ có ý nghĩa khi học sinh và gia đình nhìn thấy cơ hội thật. Nếu học nghề bị coi là lựa chọn thứ yếu cho học sinh yếu thế, phân luồng sẽ trở thành một dạng loại trừ mềm.

Ngược lại, nếu giáo dục nghề nghiệp được thiết kế tốt, có học bổng, ký túc xá, thực hành nghề, doanh nghiệp đồng hành, cam kết việc làm và cơ hội học tiếp, đây có thể trở thành con đường lựa chọn rất thực tế cho thanh niên DTTS.

Vì vậy, mỗi học sinh vùng đồng bào DTTS và miền núi sau THCS cần có một lộ trình phát triển cụ thể. Đó có thể là học tiếp THPT, học nghề, học song song văn hóa và nghề nghiệp, hoặc tham gia các chương trình đào tạo kỹ năng gắn với sinh kế địa phương.

Điều quan trọng là không để học sinh rời khỏi hệ thống giáo dục mà không có kỹ năng, chứng chỉ hoặc phương án phát triển tiếp theo.

Cần một tiếp cận về chính sách ngôn ngữ hiện đại hơn

Một trong những điểm cần đổi mới mạnh là chính sách ngôn ngữ trong giáo dục.

Trong nhiều năm, chúng ta thường đặt vấn đề theo hướng “tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS”. Điều này đúng và cần thiết, bởi tiếng Việt là ngôn ngữ chung của quốc gia, là công cụ học tập, làm việc, giao tiếp và hội nhập. Nhưng nếu chỉ nhìn vấn đề theo một chiều, chúng ta có thể bỏ qua vai trò quan trọng của tiếng mẹ đẻ.

Theo các nghiên cứu về nhân học ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ không phải là rào cản, mà là tài sản nhận thức và văn hóa. Trẻ em sẽ học tốt hơn khi được bắt đầu từ ngôn ngữ và thế giới quen thuộc của mình.

Ở mầm non và những năm đầu tiểu học, việc sử dụng hợp lý tiếng mẹ đẻ, học liệu song ngữ, trợ giảng địa phương, câu chuyện dân gian, bài hát, hình ảnh, tri thức bản địa có thể giúp trẻ tự tin hơn, hiểu bài tốt hơn và chuyển sang tiếng Việt hiệu quả hơn.

Cách tiếp cận hiện đại không phải là lựa chọn giữa tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ, mà là giáo dục đa ngữ chuyển tiếp: Tiếng mẹ đẻ là nền tảng ban đầu; tiếng Việt là công cụ quốc gia; ngoại ngữ và kỹ năng số là năng lực hội nhập trong giai đoạn cao hơn.

Đây cũng là cách để giáo dục không làm đứt gãy bản sắc văn hóa, mà ngược lại, giúp học sinh DTTS bước vào thế giới hiện đại với sự tự tin về nguồn gốc của mình.

Với vùng đồng bào DTTS và miền núi, vai trò của giáo viên có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Ảnh: DTPT

Với vùng đồng bào DTTS và miền núi, vai trò của giáo viên có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Ảnh: DTPT

Trường học vùng khó phải trở thành trung tâm phát triển con người

Ở vùng đồng bào DTTS và miền núi, trường học không chỉ là nơi dạy chữ. Trong nhiều trường hợp, trường học là thiết chế xã hội quan trọng nhất ở cấp xã, cụm xã, nhất là tại vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Vì vậy, hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, trường liên cấp ở khu vực biên giới cần được phát triển theo hướng “trường học thế hệ mới”.

Đó không chỉ là nơi học văn hóa và ăn ở tập trung, mà còn là không gian chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống, thể thao, thư viện, công nghệ số, hướng nghiệp và bảo tồn văn hóa dân tộc.

Một trường nội trú tốt không chỉ giúp học sinh có chỗ ở an toàn. Trường đó phải giúp học sinh học tốt hơn, khỏe mạnh hơn, tự tin hơn, có kỹ năng sống tốt hơn và có định hướng tương lai rõ hơn.

Nếu chỉ đầu tư phòng học, nhà ở, bếp ăn mà thiếu giáo viên tốt, người quản lý đời sống học sinh, tư vấn tâm lý, hoạt động văn hóa, thể thao và hướng nghiệp, mô hình nội trú sẽ khó phát huy hết giá trị.

Đầu tư cho trường học vùng khó vì thế cần được hiểu là đầu tư cho hạ tầng phát triển con người.

Giáo viên là then chốt của mọi cải cách

Không có chính sách giáo dục nào thành công nếu không có đội ngũ giáo viên đủ năng lực và đủ động lực. Với vùng đồng bào DTTS và miền núi, vai trò của giáo viên càng đặc biệt.

Giáo viên ở vùng khó không chỉ dạy học. Họ thường là người kết nối gia đình với nhà trường, vận động học sinh ra lớp, hỗ trợ trẻ vượt qua rào cản ngôn ngữ, giúp học sinh thích nghi với môi trường nội trú, phát hiện nguy cơ bỏ học, đồng hành với các em trong những biến động tâm lý tuổi học đường.

Do đó, chính sách giáo viên vùng đồng bào DTTS cần vượt ra khỏi tư duy phụ cấp thông thường. Cần có một chương trình giáo viên chiến lược cho vùng khó, bao gồm tuyển chọn, đào tạo, đãi ngộ, nhà công vụ, cơ hội phát triển nghề nghiệp, mạng lưới cố vấn chuyên môn và chính sách thu hút giáo viên giỏi về công tác lâu dài.

Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo giáo viên là người DTTS, giáo viên biết tiếng dân tộc, giáo viên mầm non, tiểu học, giáo viên STEM, ngoại ngữ, công nghệ và giáo viên giáo dục nghề nghiệp. Đây là lực lượng có vai trò quyết định trong việc biến chính sách thành kết quả học tập thực chất.

Đào tạo nghề nên có sự liên kết nhất định với sinh kế phù hợp

Một thách thức khá đáng kể của đào tạo nghề ở vùng đồng bào DTTS là nhiều chương trình còn nặng về mở lớp, nhẹ về đầu ra. Người học có thể hoàn thành khóa đào tạo nhưng chưa chắc có việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn hoặc kỹ năng được thị trường công nhận.

Trong giai đoạn tới, giáo dục nghề nghiệp cần chuyển sang cách tiếp cận theo cụm kỹ năng và chuỗi giá trị. Mỗi địa phương cần xác định rõ các nhóm nghề phù hợp với lợi thế phát triển: Nông nghiệp sinh thái, chế biến nông sản, lâm nghiệp bền vững, du lịch cộng đồng, thương mại điện tử nông thôn, Logistics nông sản, năng lượng tái tạo quy mô nhỏ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, dịch vụ xã hội, bảo trì máy móc, xây dựng xanh và nghề số cơ bản.

Đào tạo nghề không thể tách khỏi doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, thị trường tiêu thụ và quy hoạch phát triển địa phương. Ngân sách đào tạo nghề cũng cần gắn với kết quả: người học có hoàn thành không, có việc làm không, có tăng thu nhập không, có tiếp tục học lên không, có đóng góp trở lại cho cộng đồng không.

Với thanh niên DTTS, cần nghiên cứu mô hình “hộ chiếu kỹ năng” để ghi nhận quá trình học tập, chứng chỉ nghề, kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, kinh nghiệm thực tập, việc làm và khởi nghiệp. Đây là cách phù hợp với một thị trường lao động đang thay đổi nhanh, nơi người lao động cần học suốt đời thay vì chỉ học một lần.

Từ dữ liệu báo cáo sang dữ liệu hành động

Một chính sách tốt cần dữ liệu tốt. Hiện nay, nhiều số liệu giáo dục vẫn được tổng hợp theo năm học, theo cấp học, theo địa phương. Cách làm này cần thiết, nhưng chưa đủ để phát hiện sớm nguy cơ của từng học sinh.

Cần có hệ thống dữ liệu người học liên thông, theo mã định danh, để theo dõi hành trình học tập từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT, giáo dục nghề nghiệp đến việc làm. Hệ thống này phải giúp địa phương biết học sinh nào nghỉ học nhiều ngày, học lực giảm sút, không chuyển cấp, có nguy cơ bỏ học, nguy cơ kết hôn sớm hoặc lao động sớm.

Khi dữ liệu đi đến từng học sinh, chính sách mới có thể can thiệp đúng lúc. Khi dữ liệu chỉ dừng ở báo cáo tổng hợp, nhiều em đã rời trường trước khi hệ thống kịp nhận ra.

Đầu tư vào con người là đầu tư cho tương lai quốc gia

Giai đoạn 2026-2030 là thời điểm quan trọng để thiết kế lại chính sách giáo dục vùng đồng bào DTTS và miền núi theo hướng tích hợp hơn, hiện đại hơn và đo lường được kết quả rõ hơn.

Trọng tâm chính sách không nên chỉ là tăng số lượng trường lớp hay mở rộng hỗ trợ, mà phải là đầu tư vào con người. Điều đó đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện: can thiệp sớm từ mầm non, bảo đảm năng lực nền tảng ở tiểu học, giữ vững chuyển tiếp ở THCS, mở rộng cơ hội THPT và giáo dục nghề nghiệp, đổi mới chính sách ngôn ngữ, đầu tư cho giáo viên, phát triển trường nội trú - bán trú thế hệ mới, ứng dụng công nghệ số và xây dựng dữ liệu cảnh báo sớm.

Nếu làm được điều đó, giáo dục vùng đồng bào DTTS và miền núi sẽ không chỉ là chính sách an sinh, mà trở thành động lực phát triển. Mỗi học sinh DTTS được học tốt hơn hôm nay có thể trở thành giáo viên, kỹ sư, cán bộ cơ sở, doanh nhân cộng đồng, kỹ thuật viên, hướng dẫn viên du lịch, chuyên gia nông nghiệp, nhân viên y tế, nhà quản lý hoặc người dẫn dắt đổi mới tại chính quê hương mình trong tương lai.

Đích đến của chính sách giáo dục không phải chỉ là đưa trẻ đến trường. Đích đến cao hơn là giúp các em có đủ tri thức, kỹ năng, bản lĩnh và niềm tin để bước tiếp, để phát triển và để góp phần làm giàu cho bản làng, cho cộng đồng và cho đất nước.

TS. Hà Việt Quân

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/de-hoc-sinh-dan-toc-thieu-so-co-nhung-buoc-tien-xa-hon-2531256.html