Để đất đai trở thành nguồn lực cho văn hóa
Quốc hội đang thảo luận, cho ý kiến về việc sửa đổi Luật Đất Đai, một đạo luật có phạm vi tác động đặc biệt rộng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân, hoạt động của doanh nghiệp và khả năng khai thông một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho phát triển đất nước.
Trong quá trình hoàn thiện chính sách, bên cạnh yêu cầu giải phóng nguồn lực đất đai cho tăng trưởng, cần dành sự quan tâm thỏa đáng cho văn hóa, thể thao và du lịch, những lĩnh vực không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn quyết định chất lượng sống, bản sắc và sức cạnh tranh lâu dài của mỗi địa phương.
Không gian cho văn hóa và sáng tạo
Đất đai trước hết là một nguồn lực phát triển, nhưng đất đai không chỉ là nguồn lực kinh tế. Một mảnh đất có thể trở thành nhà máy, trung tâm thương mại, khu đô thị và tạo ra giá trị kinh tế rất rõ ràng; nhưng cũng chính mảnh đất ấy có thể là nơi tồn tại một ngôi đình, một sân chơi, một nhà văn hóa, một công viên, một bảo tàng, một sân vận động hay một không gian sáng tạo.

Quốc hội đang thảo luận về việc sửa đổi Luật Đất đai (ảnh minh họa). Ảnh: TTXVN
Giá trị của những không gian này không phải lúc nào cũng có thể lập tức quy đổi thành tiền, nhưng lại góp phần hình thành chất lượng sống, ký ức cộng đồng, bản sắc đô thị và sức khỏe thể chất, tinh thần của con người.
Vì thế, sửa Luật Đất đai lần này cũng là dịp để nhìn đất đai trong một tầm nhìn phát triển rộng hơn: Đất cho kinh tế nhưng đồng thời phải có đất cho văn hóa, cho sức khỏe, cho sáng tạo và cho đời sống cộng đồng.
Dự thảo đã thể hiện bước tiến khi nguyên tắc sử dụng đất đề cập tới phát triển giáo dục, văn hóa, thể thao; đồng thời xác định phát triển văn hóa, thể dục, thể thao thuộc những lĩnh vực được khuyến khích đầu tư vào sử dụng đất. Tuy nhiên, từ nguyên tắc đến khả năng bảo đảm quỹ đất trên thực tế vẫn còn một khoảng cách.
Điều dễ nhận thấy tại nhiều đô thị là khi giá trị đất tăng cao, những công trình có khả năng tạo doanh thu trực tiếp thường có lợi thế lớn hơn những thiết chế công cộng. Một khu thương mại có thể tính được ngay hiệu quả tài chính, trong khi giá trị của một thư viện, một sân chơi hay nhà văn hóa lại nằm ở những lợi ích xã hội lâu dài.
Nếu chỉ để các mục đích sử dụng đất tự cạnh tranh theo logic giá trị thương mại, văn hóa và thể thao rất dễ trở thành những lĩnh vực phải “nhường đất”.
Bởi vậy, cần nghiên cứu quy định ngay trong Luật nguyên tắc bảo đảm định mức tối thiểu quỹ đất cho thiết chế văn hóa và thể thao cơ sở theo quy mô dân số, đặc biệt đối với các khu đô thị mới, khu nhà ở xã hội, khu tái định cư, khu công nghiệp và những khu vực có tốc độ gia tăng dân số nhanh.
Đồng thời, nên có nguyên tắc không làm suy giảm quỹ đất văn hóa, thể thao công cộng: Đất đã quy hoạch cho công viên, sân chơi, nhà văn hóa, thư viện, cơ sở thể thao cộng đồng khi buộc phải chuyển sang mục đích khác thì phải bố trí quỹ đất thay thế có diện tích, chất lượng và khả năng tiếp cận tương đương hoặc tốt hơn.
Đây không chỉ là câu chuyện quy hoạch mà còn là vấn đề công bằng trong phát triển. Một thành phố hiện đại không thể chỉ có những tòa nhà đẹp, trung tâm thương mại lớn mà thiếu không gian để trẻ em vui chơi, người cao tuổi đi bộ, thanh niên tập luyện thể thao, người dân đọc sách, xem nghệ thuật và gặp gỡ nhau. Giá trị của đô thị cuối cùng phải được đo bằng chất lượng sống của con người.
Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là đất cho công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Chúng ta đang đặt nhiều kỳ vọng vào điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ, trò chơi điện tử và các ngành công nghiệp văn hóa khác.
Nhưng công nghiệp văn hóa không thể phát triển chỉ bằng ý tưởng và tài năng. Nó cần hạ tầng và không gian: Điện ảnh cần phim trường; nghệ thuật biểu diễn cần nhà hát và trung tâm biểu diễn; các doanh nghiệp sáng tạo cần những cụm sáng tạo, trung tâm thiết kế, không gian làm việc và thử nghiệm; các thành phố sáng tạo cần những khu vực để nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng gặp nhau.
Ở đây xuất hiện một điểm cần được tháo gỡ. Dự thảo quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho các lĩnh vực ưu đãi đầu tư, nhưng lại loại trừ trường hợp sử dụng đất thương mại, dịch vụ. Trong khi trên thực tế, rất nhiều dự án công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, bảo tàng ngoài công lập, trung tâm biểu diễn hay tổ hợp văn hóa lại mang yếu tố kinh doanh, dịch vụ.
Nếu không giải quyết được điểm giao nhau này, có thể xảy ra nghịch lý: Chính sách muốn khuyến khích công nghiệp văn hóa nhưng dự án văn hóa lại khó tiếp cận ưu đãi đất đai vì được xác định là hoạt động thương mại, dịch vụ.
Cần nghiên cứu một cơ chế ngoại lệ có kiểm soát cho những dự án công nghiệp văn hóa thực sự đáp ứng tiêu chí ưu đãi. Nhưng ưu đãi phải đi cùng hàng rào chống lợi dụng. Chúng ta cần ưu đãi cho hoạt động văn hóa, chứ không ưu đãi cho bất động sản mang tên văn hóa.
Một dự án nhận ưu đãi đất đai cho văn hóa phải có tỷ lệ diện tích tối thiểu thực sự dành cho hoạt động văn hóa, phải duy trì công năng trong một khoảng thời gian đủ dài; nếu chuyển đổi sang bất động sản hoặc mục đích thương mại khác thì phải hoàn trả ưu đãi và phần chênh lệch địa tô phát sinh.
Đất cho du lịch và di sản
Nếu văn hóa và thể thao đã được nhắc tương đối rõ trong dự thảo thì lĩnh vực mà theo tôi còn thiếu một cách tiếp cận tương xứng chính là du lịch. Nội dung đề cập trực tiếp đến du lịch hiện còn khá hạn chế, chủ yếu liên quan đến bất động sản du lịch và trường hợp giao, cho thuê đất cho dự án du lịch tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trong khi đó, du lịch ngày nay không chỉ là khách sạn hay khu nghỉ dưỡng. Du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch nông nghiệp, du lịch làng nghề, du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái đang trở thành những phương thức rất quan trọng để một địa phương biến tài nguyên bản địa thành sinh kế.
Ở một làng nghề, người dân không chỉ bán một sản phẩm thủ công mà còn có thể bán cả câu chuyện về nghề, trải nghiệm làm nghề, ẩm thực, cảnh quan và lối sống. Ở một vùng nông nghiệp, người dân không chỉ bán nông sản mà còn có thể tổ chức trải nghiệm mùa vụ, giới thiệu sản phẩm, phục vụ khách tham quan.
Ở một vùng có di sản, bảo tồn và du lịch nếu được tổ chức tốt có thể tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực: Di sản tạo sinh kế, còn sinh kế giúp cộng đồng có thêm nguồn lực và động lực bảo vệ di sản. Nhưng một trong những điểm nghẽn của những mô hình này chính là đất đai.
Một hộ gia đình có đất nông nghiệp muốn dành một phần rất nhỏ làm nơi giới thiệu sản phẩm, phục vụ trải nghiệm hoặc tổ chức hoạt động du lịch nếu phải chuyển toàn bộ sang đất thương mại, dịch vụ sẽ gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục và chi phí. Vì vậy, tôi đặc biệt quan tâm tới quy định về sử dụng đất kết hợp đa mục đích.
Dự thảo đã mở ra cơ chế sử dụng một phần diện tích của mục đích sử dụng đất chính vào mục đích khác, nhưng hiện chủ yếu mới quy định những nguyên tắc chung và giao Chính phủ quy định cụ thể.
Theo tôi, có thể đi thêm một bước ngay trong Luật bằng cách nhận diện rõ một số mô hình cần khuyến khích như: Đất nông nghiệp kết hợp du lịch nông nghiệp; đất làng nghề kết hợp không gian trải nghiệm; cơ sở văn hóa kết hợp dịch vụ văn hóa sáng tạo; cơ sở thể thao kết hợp dịch vụ hỗ trợ; và trong điều kiện phù hợp, đất rừng kết hợp du lịch sinh thái.
Nguyên tắc quản lý nên dựa trên quy mô và mức độ tác động. Một hộ nông dân dành một phần nhỏ khu vườn làm không gian trải nghiệm không thể áp dụng cùng một cơ chế với một khu nghỉ dưỡng hàng chục hecta.
Hoạt động phụ trợ nhỏ, không làm thay đổi công năng chính và không gây tác động đáng kể thì thủ tục nên đơn giản; dự án lớn, có xây dựng nhiều công trình và tạo ra giá trị thương mại lớn thì phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về đất đai.
Đối với du lịch, cũng cần phân biệt rõ hạ tầng du lịch công cộng với bất động sản du lịch. Một tuyến đường tiếp cận điểm du lịch, bãi đỗ xe, trung tâm thông tin du khách, tuyến đi bộ, điểm ngắm cảnh, nhà vệ sinh công cộng hay không gian quảng trường phục vụ khách du lịch có tính chất rất khác một khách sạn, resort hay dự án bất động sản nghỉ dưỡng.
Những hạ tầng thực sự phục vụ lợi ích công cộng cần có cơ chế tiếp cận đất phù hợp để tạo điều kiện cho điểm đến phát triển. Ngược lại, bất động sản du lịch có mục tiêu kinh doanh phải tuân thủ đầy đủ nguyên tắc thị trường và nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Một vấn đề rất quan trọng nữa là mối quan hệ giữa đất đai và di sản văn hóa. Dự thảo đã xác định chế độ sử dụng đất phải bảo vệ, duy trì và phát huy giá trị của đất có di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và di sản thiên nhiên. Đây là cách tiếp cận cần thiết nhưng theo tôi vẫn có thể mở rộng, bởi di sản không chỉ nằm trong ranh giới của một công trình.
Một ngôi đình có giá trị bởi còn sân đình, cây đa, hồ nước, đường làng và không gian lễ hội. Một làng nghề có giá trị bởi còn người làm nghề, còn nhà xưởng truyền thống, không gian sinh hoạt, truyền nghề và những mối quan hệ cộng đồng. Một lễ hội chỉ thực sự sống khi còn không gian để cộng đồng thực hành nó.
Vì thế, trong quy hoạch và sử dụng đất tại những khu vực có di sản cần quan tâm đến cảnh quan văn hóa và không gian thực hành văn hóa, thay vì chỉ bảo vệ riêng phần đất có công trình di tích. Đặc biệt, dự thảo hiện yêu cầu sử dụng đất đa mục đích phải “hạn chế ảnh hưởng” tới di sản văn hóa, cảnh quan và môi trường.
Theo tôi, đối với di sản, yêu cầu cần mạnh hơn: Không làm xâm hại hoặc suy giảm giá trị, tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản và cảnh quan văn hóa. Bởi một di sản đã mất đi tính xác thực thì rất khó, thậm chí không thể khôi phục bằng tiền.
