Để chuyển đổi số tạo ra năng lực thực sự

Chuyển đổi số thành công không chỉ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp mua công nghệ gì, mà còn ở cách tổ chức lại con người, quy trình và việc ra quyết định xoay quanh công nghệ đó.

Khoảng cách về năng lực số ngày càng rộng

Số liệu từ các tổ chức tư vấn quốc tế cho thấy khoảng cách về năng lực số giữa nhóm dẫn đầu và phần còn lại ngày càng rộng.

Theo McKinsey, doanh nghiệp trưởng thành về số có khả năng đạt tăng trưởng doanh thu cao hơn trung bình ngành khoảng 1,5 lần. Những doanh nghiệp đưa AI vào các hoạt động cốt lõi ghi nhận mức giảm 20 - 25% chi phí vận hành và tăng 15 - 20% hiệu quả chung. Deloitte cũng ghi nhận, những doanh nghiệp đầu tư trên 5% doanh thu cho năng lực số có sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ giữ chân khách hàng.

Doanh nghiệp cần coi chuyển đổi số là bài toán mô hình kinh doanh thay vì bài toán công nghệ. Ảnh: TTXVN

Doanh nghiệp cần coi chuyển đổi số là bài toán mô hình kinh doanh thay vì bài toán công nghệ. Ảnh: TTXVN

Nhưng bức tranh chuyển đổi số không đồng đều. Nhóm dẫn đầu thường là các doanh nghiệp lớn, có sẵn hạ tầng dữ liệu và đội ngũ kỹ thuật. Phần còn lại, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, mới dừng ở số hóa từng khâu: một phần mềm kế toán, một trang bán hàng, một nhóm chat nội bộ. Các mảnh ghép ấy không “nói chuyện” được với nhau, dữ liệu không chảy thành dòng. Kết quả là doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ, nhưng chưa hình thành được năng lực số.

Năm nút thắt cơ bản trong chuyển đổi số

Đầu tiên là con người. Doanh nghiệp mua được hệ thống nhưng không có người khai thác, vận hành. Nhân sự cũ chưa được đào tạo lại, nhân sự mới thạo công nghệ thì khan hiếm và đắt đỏ. Hệ quả là hệ thống chỉ chạy một phần công suất, còn các quyết định vẫn dựa vào cảm tính.

Tiếp đến là an ninh mạng. Càng kết nối, rủi ro càng cao, bề mặt tấn công càng rộng. Khảo sát của PwC cho thấy 67% lãnh đạo doanh nghiệp toàn cầu xếp an ninh mạng vào nhóm 5 mối lo ngại hàng đầu. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, một sự cố dữ liệu có thể khiến họ mất niềm tin của khách hàng, thậm chí mất khách hàng vĩnh viễn.

Bên cạnh đó, phải kể đến sức cản bên trong tổ chức. Chuyển đổi số làm thay đổi quyền quyết định, cách đo lường hiệu quả và vị thế của từng bộ phận. Khi cảm thấy vị trí hoặc lợi ích bị đe dọa, người trong tổ chức có thể phản kháng, công khai hoặc âm thầm. Khi đó, dự án có thể “chết” một cách lặng lẽ: hệ thống vẫn được triển khai, nhưng không ai thực sự dùng nó trong công việc.

Khoảng trống pháp lý và đạo đức cũng là điều đáng chú ý. Công nghệ đang đi nhanh hơn luật, trong khi nhiều vấn đề về quyền riêng tư dữ liệu, thiên lệch thuật toán và tính minh bạch của AI chưa có khung xử lý rõ ràng. Doanh nghiệp vì thế vừa e ngại rủi ro tuân thủ, vừa có nguy cơ vô tình bước qua ranh giới đạo đức.

Cuối cùng là áp lực phát triển bền vững. Ngành công nghệ thông tin và truyền thông đóng góp khoảng 3 - 4% lượng phát thải CO₂ toàn cầu. Nếu làm đúng, chuyển đổi số có thể giúp nhiều ngành cắt giảm phát thải; nhưng nếu làm sai, chính quá trình chuyển đổi số lại có thể tạo thêm một nguồn phát thải mới.

Sáu việc doanh nghiệp cần làm

Một là, coi chuyển đổi số là bài toán mô hình kinh doanh, không phải bài toán công nghệ. Trước khi chọn phần mềm, doanh nghiệp cần trả lời: giá trị mang lại cho khách hàng sẽ thay đổi thế nào, quy trình nào biến mất, quy trình nào được hình thành. Nếu câu trả lời chỉ là “làm việc cũ nhanh hơn” thì khoản đầu tư khó có lãi. Hiệu quả lớn đến từ việc tái thiết kế cách thức vận hành, không phải chỉ từ điện tử hóa giấy tờ hiện có.

Hai là, đầu tư hạ tầng và con người theo cùng một nhịp. Ngân sách nên được phân bổ cho cả hệ thống lẫn đào tạo, thay vì dồn hết vào phần cứng và phần mềm. Cách làm hiệu quả là đào tạo nội bộ liên tục, kết hợp xây dựng một nhóm nòng cốt am hiểu cả nghiệp vụ lẫn công nghệ, đóng vai trò cầu nối giữa bộ phận kỹ thuật và kinh doanh.

Ba là, đưa AI vào quy trình cốt lõi thay vì thí điểm rời rạc. Nhiều doanh nghiệp mới dừng ở các dự án AI trình diễn, tách khỏi vận hành thực tế nên khó tạo ra giá trị đo đếm được. Doanh nghiệp nên bắt đầu từ những bài toán đã có dữ liệu và có thể đo lường kết quả như dự báo nhu cầu, phân loại khách hàng, tối ưu tồn kho, xử lý yêu cầu hỗ trợ, rồi mở rộng dần từ đó.

Bốn là, xây dựng năng lực linh hoạt trong tổ chức. Tốc độ thích ứng đang trở thành lợi thế cạnh tranh không kém quy mô. Điều này đòi hỏi cách thức lãnh đạo cho phép thử nghiệm nhanh, chấp nhận sai sót trong phạm vi kiểm soát được và trao quyền cho các nhóm liên chức năng ra quyết định, thay vì chờ phê duyệt qua nhiều tầng.

Năm là, tham gia hệ sinh thái thay vì làm một mình. Rất ít doanh nghiệp đủ nguồn lực để tự phát triển toàn bộ năng lực số. Liên kết với trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp, nhà cung cấp công nghệ và đối tác trong chuỗi cung ứng có thể giúp rút ngắn thời gian và chia sẻ rủi ro. Với doanh nghiệp nhỏ, đây thường là con đường khả thi để rút ngắn khoảng cách về năng lực số.

Sáu là, gắn chuyển đổi số với mục tiêu bền vững và quản trị có đạo đức. Hai việc này nên đi cùng nhau ngay từ đầu, thay vì được bổ sung về sau: chọn hạ tầng tiết kiệm năng lượng; đặt chỉ tiêu giảm phát thải song song với chỉ tiêu hiệu quả; rà soát dữ liệu và thuật toán trước khi triển khai; công khai với khách hàng cách thức dữ liệu của họ được sử dụng. Niềm tin một khi đã mất sẽ tốn kém hơn nhiều so với chi phí để gây dựng.

Doanh nghiệp không thể tự giải quyết mọi nút thắt. Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu và AI theo hướng vừa bảo vệ người dùng, vừa tạo không gian cho đổi mới; đồng thời đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số ở quy mô quốc gia, đặc biệt đối với lực lượng lao động hiện hữu. Các chính sách hỗ trợ cũng cần tập trung hơn vào doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo và chương trình tư vấn, bởi đây là nhóm có nguy cơ bị bỏ lại xa nhất trong tiến trình chuyển đổi số.

Chuyển đổi số thành công không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp mua công nghệ gì, mà ở cách tổ chức lại con người, quy trình và việc ra quyết định xoay quanh công nghệ đó. Nếu xem chuyển đổi số là dự án riêng của phòng công nghệ thông tin, doanh nghiệp có thể tốn kém mà không tạo ra thay đổi thực chất. Chỉ khi người đứng đầu gắn chuyển đổi số với chiến lược kinh doanh, năng lực nhân sự và trách nhiệm xã hội, công nghệ mới thực sự trở thành năng lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thích ứng và tăng sức chống chịu trên thương trường ngày càng khốc liệt.

TS. Nguyễn Hoàng Hiệp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/de-chuyen-doi-so-tao-ra-nang-luc-thuc-su-10429731.html