Dấu xưa Nho học xứ Quảng

Giữa những lớp trầm tích văn hóa xứ Quảng, Văn Thánh và Khổng Miếu là những công trình gắn với truyền thống Nho học, nơi còn lưu giữ nhiều dấu ấn của một thời lấy việc học và đạo lý làm nền tảng cho đời sống cộng đồng.

Văn Thánh, Khổng Miếu Tam Kỳ. Ảnh: HOÀNG ĐẠO

Văn Thánh, Khổng Miếu Tam Kỳ. Ảnh: HOÀNG ĐẠO

Nơi đạo học bén rễ

Trong dòng chảy lịch sử văn hóa xứ Quảng, bên cạnh các di tích kiến trúc dân dụng và tôn giáo tín ngưỡng thì hệ thống Văn Thánh, Khổng Miếu là một dấu ấn đặc biệt. Ngoài chức năng thờ Khổng Tử và các bậc tiền hiền, đây còn là nơi hội họp của giới sĩ phu, tổ chức tế lễ, bình văn, khuyến học và duy trì nền nếp đạo học trong cộng đồng.

Dưới thời Nguyễn, Quảng Nam có Văn Miếu ở cấp tỉnh, cùng hệ thống Văn Thánh và Khổng Miếu ở nhiều địa phương như Văn Miếu Quảng Nam, Văn Thánh Chiên Đàn, Văn Thánh miếu Minh Hương và Văn Thánh miếu Cẩm Phô... Trong đó, Văn Miếu Quảng Nam và Văn Thánh Chiên Đàn phản ánh khá rõ diện mạo của nền Nho học xứ Quảng qua nhiều giai đoạn lịch sử.

Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, Văn Miếu tỉnh Quảng Nam từng đặt ở phía tây xã Câu Nhí thờ tiên sư Khổng Tử. Dưới thời Gia Long, vì bờ sông bị xói lở nên dời đến phía đông của xã. Vào năm Minh Mạng thứ 16, do bờ sông tiếp tục bị xói lở nên dời về làng Thanh Chiêm. Trong sưu khảo Đây! Quảng Nam, tác giả Vũ Lang mô tả: Văn Miếu là ngôi đền ba gian hai chái, bốn phía xây tường bao, phía trước có cổng tam quan với tấm bia khắc 4 chữ “Khuynh cái hạ mã” (nghiêng lọng, xuống ngựa). Phần tiền đường có Đông vu, Tây vu, phía tả có nhà túc, phía tây có điện thờ Khải Thánh (thân sinh đức Khổng Phu Tử).

Ở phía nam tỉnh, Văn Thánh Chiên Đàn được hình thành từ đầu thế kỷ XIX với sự chung sức của các quan chức, văn thân và sĩ tử địa phương. Đây là nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền, đồng thời là không gian sinh hoạt của Văn hội, tổ chức bình văn, tế lễ và khuyến học. Ban đầu, chỉ những người có học vị hoặc đang theo học mới được gia nhập Văn hội. Sau khi khoa cử bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ XX, tổ chức này mở rộng thành phần hội viên để tiếp tục duy trì các hoạt động khuyến học và gìn giữ truyền thống hiếu học trong bối cảnh xã hội đổi thay.

Qua những biến thiên lịch sử

Năm 1886, Văn Miếu Thanh Chiêm bị quân Pháp đốt phá rồi được triều đình nhà Nguyễn cho dựng lại dưới thời vua Thành Thái. Đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, công trình không còn tồn tại sau chủ trương tiêu thổ kháng chiến nhằm ngăn bước tiến của quân Pháp.

Văn Thánh Chiên Đàn cũng bị phá hủy trong những năm kháng chiến. Dẫu công trình không còn nguyên vẹn nhưng truyền thống tôn sư trọng đạo ở Tam Kỳ vẫn được tiếp nối. Hội Cổ học Tam Kỳ vẫn duy trì việc phụng thờ Khổng Tử tại đình Chiên Đàn, trước khi vận động xây dựng Khổng Miếu Tam Kỳ vào đầu thập niên 1960. Công trình mới được khởi công vào năm 1963, nhiều lần gián đoạn bởi những biến động chính trị, thiên tai và khó khăn về tài chính, nhưng cuối cùng vẫn được hoàn thành vào năm 1970 nhờ sự chung sức của đông đảo trí thức và nhân sĩ địa phương. Những hoành phi, văn bia, bảng ghi công từ… của Văn Thánh Chiên Đàn cũng được gìn giữ và chuyển về ngôi miếu mới.

Trong khi đó, năm 1961, Hội Cổ học Quảng Nam khởi công xây dựng Khổng Tử Miếu tại Hội An trên khu đất rộng gần 4.800m2². Công trình do họa sĩ, kiến trúc sư Tôn Thất Sa thiết kế theo quy thức Á Đông, nổi bật với cổng Tam quan, hồ sen, cầu bán nguyệt, bình phong Long Mã và Đại thành điện thờ Khổng Tử. Sau ngày đất nước thống nhất, Khổng Tử Miếu bị hư hại và nay đã được trùng tu, bảo tồn, trở thành một điểm tham quan giàu giá trị văn hóa ở đô thị cổ Hội An.

Di sản một vùng đất

Nếu chỉ nhìn ở góc độ kiến trúc của Văn Thánh và Khổng Miếu sẽ khó lý giải hết giá trị của các công trình này. Điều còn lại sau những biến thiên lịch sử chính là tinh thần trọng học và đạo lý làm người mà các thiết chế ấy từng nuôi dưỡng.

Tại Khổng Tử Miếu Hội An, từ hồ sen, cầu bán nguyệt, bình phong Long Mã đến những bức phù điêu kể các điển tích như Mạnh Mẫu Vị Tử Trạch Lân, Tử Lộ Vị Thân Phụ Mễ, Khổng Tử tác Hiếu kinh, Lân Thổ Ngọc Thư... đều hướng con người đến những giá trị cốt lõi của Nho học: Hiếu kính, học tập, tu thân và trọng nghĩa. Bên trong Đại thành điện, tượng Khổng Tử được tôn trí trang nghiêm. Các mỹ tự “Đại thành chí thánh”, “Vạn thế sư biểu”, “Đạo quán cổ kim”, “Đức phối thiên địa”... thể hiện sự tôn kính đối với bậc khai sáng một hệ tư tưởng đã ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông.

Đặc sắc hơn cả là hệ thống câu đối, nơi kết tinh tư tưởng tôn sư trọng đạo và niềm tự hào về truyền thống học hành của xứ Quảng. Một câu đối viết: “Quảng bị nho phong: Sài thủy, Hành sơn danh giáo địa; Nam lai triết học: Hạnh đàn, Cối trạch thái hòa thiên”. (Tạm dịch: Nho phong phủ rộng, sông Sài núi Hành là miền danh giáo; Đạo học truyền sang phương Nam, Hạnh đàn, Cối Trạch mở cõi thái hòa). Qua những câu đối còn lưu lại, có thể cảm nhận rõ tinh thần tôn sư trọng đạo và niềm tự hào về truyền thống hiếu học của người Quảng. Từ không gian của các Văn hội và Văn Thánh, nhiều thế hệ sĩ tử đã trưởng thành, góp phần tạo nên lớp nhân vật khoa bảng, chí sĩ yêu nước và nhà văn hóa, làm nên danh tiếng của vùng đất “địa linh nhân kiệt”.

Dẫu Văn Miếu Thanh Chiêm nay chỉ còn trong thư tịch, nhưng Khổng Miếu Hội An, Văn Thánh - Khổng Miếu Tam Kỳ, Văn Thánh miếu Minh Hương, Văn Thánh miếu Cẩm Phô... vẫn còn hiện diện, như nhắc người hôm nay về một thời xứ Quảng lấy việc học làm nền, lấy đạo lý làm gốc. Chính từ những thiết chế ấy, truyền thống hiếu học của vùng đất này được bồi đắp và nối dài qua nhiều thế hệ.

VŨ HOÀI AN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dau-xua-nho-hoc-xu-quang-3346918.html