Dấu chân nhập thế trên miền di sản Trúc Lâm

Sáng sớm, mây vẫn quấn quanh những triền núi Yên Tử. Tiếng chuông chùa ngân lên giữa không gian tĩnh lặng, tan vào màn sương bảng lảng rồi vọng xuống những cánh rừng xanh thẳm.

Dưới chân núi, dòng người lặng lẽ bước theo những bậc đá phủ rêu, người hành hương tìm về đất Tổ, người tìm dấu tích lịch sử, cũng có người chỉ mong một lần đứng giữa miền non thiêng đã khai sinh nên dòng thiền mang đậm bản sắc Việt Nam.

Mây trắng trên núi Yên Tử. (Ảnh TGCC)

Mây trắng trên núi Yên Tử. (Ảnh TGCC)

Thấm đẫm tư tưởng “cư trần lạc đạo”

Hơn bảy thế kỷ trôi qua, Yên Tử vẫn giữ vẻ trầm mặc vốn có. Nhưng điều níu chân người ta không chỉ là những ngôi chùa cổ, những cánh rừng nguyên sinh hay cảnh sắc hùng vĩ. Ẩn sau từng mái chùa, từng phiến đá là một dòng chảy văn hóa bền bỉ, nơi đạo và đời hòa quyện, nơi tư tưởng nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm được hình thành, lan tỏa và trở thành một phần trong cốt cách của dân tộc.

Việc Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới không chỉ ghi nhận giá trị của những công trình kiến trúc hay cảnh quan thiên nhiên. Điều làm nên sức sống trường tồn của quần thể di sản ấy chính là hệ giá trị tinh thần được vun đắp suốt nhiều thế kỷ, khởi nguồn từ Phật hoàng Trần Nhân Tông và được các thế hệ kế tục gìn giữ.

Trong lịch sử dân tộc, hiếm có vị vua nào để lại dấu ấn đặc biệt như Trần Nhân Tông. Hai lần cùng quân dân Đại Việt đánh bại đội quân Nguyên - Mông hùng mạnh, ông đi vào sử sách không chỉ với tư cách một minh quân mà còn là người khai sáng Thiền phái Trúc Lâm. Điều đặc biệt hơn cả là con đường từ ngai vàng đến cửa Phật của ông không phải sự lánh đời, mà là sự tiếp nối của một lý tưởng lớn hơn: Dùng đạo để giúp đời, lấy đời làm nơi thực hành đạo.

Giữa bối cảnh thế kỷ XIII đầy biến động, khi Đại Việt phải đối mặt với những cuộc chiến giữ nước và nhu cầu củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, Thiền phái Trúc Lâm ra đời như một sự kết tinh giữa tinh thần yêu nước và triết lý Phật giáo. Khác với quan niệm coi tu hành là rời xa cuộc sống, Phật hoàng Trần Nhân Tông khẳng định Phật ở ngay trong mỗi con người. Bởi vậy, người tu không nhất thiết phải rời bỏ thế gian mà quan trọng hơn là giữ được tâm sáng giữa cuộc đời nhiều biến động.

Từ đó, tư tưởng “Cư trần lạc đạo” được hình thành - sống giữa cõi đời mà vẫn an vui với đạo, không chạy theo tham cầu vô tận nhưng cũng không quay lưng với trách nhiệm đối với cộng đồng và đất nước. Đó không chỉ là một phương pháp tu hành mà còn là triết lý sống mang giá trị vượt thời gian.

Đứng giữa Yên Tử hôm nay, nhìn dòng người nối nhau trên những bậc đá dẫn lên đỉnh núi, người ta dễ cảm nhận vì sao tư tưởng ấy vẫn còn nguyên sức sống. Mỗi mái chùa như lưu giữ một lát cắt của lịch sử. Mỗi cánh rừng như chứng kiến bao bước chân của các bậc cao tăng và những người hành hương suốt hàng trăm năm qua. Không gian ấy khiến quá khứ và hiện tại dường như không còn khoảng cách.

Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử. (Ảnh TGCC)

Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử. (Ảnh TGCC)

Từ non thiêng Yên Tử, hành trình của Thiền phái Trúc Lâm không dừng lại ở nơi Phật hoàng tu tập. Dấu chân của Ngài và các vị Tổ tiếp tục in đậm trên vùng Tây Yên Tử, nơi những ngôi chùa cổ lần lượt được dựng nên để hoằng dương Phật pháp. Xuôi theo dòng Lục Nam hiền hòa, chùa Vĩnh Nghiêm hiện ra dưới bóng những cây cổ thụ. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, ngôi chùa vẫn giữ vẻ uy nghiêm, trầm mặc. Tiếng chuông, tiếng mõ đều đặn vang lên giữa sân gạch cũ, như nhịp nối giữa hiện tại và một thời kỳ rực rỡ của Phật giáo Đại Việt.

Nếu Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông hoàn thành con đường tu tập thì Vĩnh Nghiêm chính là trung tâm để tư tưởng Trúc Lâm lan tỏa khắp Đại Việt. Đây từng là nơi lưu giữ hồ sơ tăng ni cả nước, tổ chức nhiều kỳ truyền giới quy mô lớn và là địa điểm cả ba vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm - Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang trực tiếp truyền bá giáo lý.

Ngày nay, những mộc bản được lưu giữ tại chùa vẫn lặng lẽ kể câu chuyện về một thời kỳ hưng thịnh. Nhưng giá trị của Vĩnh Nghiêm không chỉ nằm ở kho tư liệu quý hay kiến trúc cổ kính. Điều còn lại sau hơn bảy thế kỷ là vai trò của một trung tâm văn hóa, giáo dục và kết nối cộng đồng, nơi đạo pháp không tách khỏi cuộc sống, nơi việc tu dưỡng luôn gắn với trách nhiệm phụng sự con người và đất nước.

Chính từ ngôi chùa bên dòng Lục Nam ấy, tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm tiếp tục được các vị Tổ kế thừa và mở rộng, đưa dòng thiền mang bản sắc Việt lan tỏa rộng khắp, để rồi từ miền non thiêng ấy, những giá trị văn hóa và đạo đức vẫn bền bỉ đồng hành cùng dân tộc.

Yên Tử chiều đông. (Ảnh TGCC)

Yên Tử chiều đông. (Ảnh TGCC)

Theo dấu Tam Tổ trên con đường hoằng dương

Rời Vĩnh Nghiêm, con đường men theo sườn Tây Yên Tử mở ra giữa màu xanh bạt ngàn của núi rừng. Những dãy núi nối nhau như những cánh tay ôm lấy miền đất từng chứng kiến bước chân của các vị Tổ Trúc Lâm.

Có ngôi chùa vẫn khói hương nghi ngút, có nơi chỉ còn nền đá phủ rêu và những dấu tích lặng lẽ ẩn mình dưới tán rừng già. Hơn bảy thế kỷ trôi qua, thiên nhiên có thể đổi thay, nhưng con đường hoằng dương của Thiền phái Trúc Lâm vẫn hiện hữu trong từng địa danh, từng mái chùa cổ và trong ký ức của người dân vùng Tây Yên Tử.

Nếu Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông viên mãn con đường tu hành, thì phía Tây Yên Tử chính là hành trình đưa tư tưởng ấy đến với nhân gian. Sau khi sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, Ngài nhiều lần vân du khắp nơi, khuyến hóa nhân dân thực hành mười điều thiện, gieo vào đời sống tinh thần từ bi, vị tha và trách nhiệm với cộng đồng.

Với Phật hoàng, dựng xây một xã hội an hòa không chỉ bắt đầu từ triều chính mà còn từ sự tu dưỡng của mỗi con người. Bởi vậy, Trúc Lâm không chỉ hướng con người đến sự giác ngộ, mà còn khơi dậy ý thức phụng sự gia đình, cộng đồng và đất nước.

Con đường ấy tiếp tục được các thế hệ kế thừa bằng những bước chân bền bỉ. Trên núi Am Ni, chùa Am Vãi nép mình giữa rừng già, thanh tịnh như tách khỏi những ồn ào của cuộc sống. Những bậc đá phủ rêu, tiếng gió lùa qua rừng trúc và những truyền thuyết về “hang tiền”, “hang gạo” vẫn được người dân lưu truyền như một phần ký ức của vùng đất thiêng. Gần hơn là chùa Hòn Tháp, Bình Long, Hồ Bấc, Khám Lạng... Những ngôi chùa nối tiếp nhau không chỉ tạo thành một hệ thống di tích, mà còn là những điểm dừng chân trên hành trình lan tỏa tư tưởng Trúc Lâm khắp miền Tây Yên Tử.

Sau khi Phật hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, trọng trách gìn giữ và phát triển Thiền phái được trao cho Đệ nhị Tổ Pháp Loa. Nếu Phật hoàng là người đặt nền móng thì Pháp Loa chính là người xây dựng nên một giáo hội quy củ, đưa Trúc Lâm bước vào giai đoạn hưng thịnh nhất.

Chùa Vĩnh Nghiêm. (Ảnh TGCC)

Chùa Vĩnh Nghiêm. (Ảnh TGCC)

Từ Vĩnh Nghiêm, các kỳ truyền giới được tổ chức đều đặn, kinh sách được khắc in và phổ biến rộng rãi, tăng tài được đào tạo bài bản. Chỉ riêng các giới đàn do Pháp Loa chủ trì đã thu nhận hơn 15.000 tăng ni xuất gia - một con số hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, phản ánh sức lan tỏa mạnh mẽ của Thiền phái Trúc Lâm trong đời sống Đại Việt.

Điều đáng quý là phía sau sự phát triển ấy không chỉ là những con số. Hơn 1.300 pho tượng Phật, hàng trăm tượng đất, hàng trăm tăng xá và một bộ Đại tạng kinh được tổ chức khắc in đã góp phần hình thành một không gian văn hóa, giáo dục và đạo đức rộng lớn.

Vĩnh Nghiêm vì thế không chỉ là một danh lam cổ tự, mà thực sự trở thành “trái tim” của Giáo hội Trúc Lâm - nơi điều hành Phật sự, đào tạo tăng tài và lan tỏa những giá trị nhân văn. Đến Đệ tam Tổ Huyền Quang, dòng chảy ấy tiếp tục được bồi đắp bằng trí tuệ của một bậc khoa bảng từng bước ra từ chốn quan trường.

Sau nhiều năm phụng sự triều đình, ông chọn con đường cửa Phật nhưng không quay lưng với cuộc đời. Những trước tác, bài giảng và công việc đào tạo tăng ni của Huyền Quang đều hướng đến việc đưa giáo lý Trúc Lâm gần hơn với con người, để đạo không chỉ hiện diện trong chốn thiền môn mà còn trở thành chuẩn mực ứng xử giữa đời thường.

Ba vị Tổ, ba cuộc đời với những lựa chọn khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: Lấy con người làm trung tâm của sự tu dưỡng. Không cực đoan khổ hạnh, không phủ nhận cuộc sống, cũng không xem thế gian là nơi phải trốn chạy. Chính tinh thần ấy đã làm nên bản sắc riêng của Thiền phái Trúc Lâm - một dòng thiền gắn bó với vận mệnh dân tộc và đồng hành cùng sự hưng thịnh của Đại Việt.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. (Ảnh TGCC)

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. (Ảnh TGCC)

Đứng trong sân chùa Vĩnh Nghiêm hôm nay, ngắm những mộc bản đã nhuốm màu thời gian, người ta hiểu vì sao kho tư liệu ấy được xem là báu vật. Mỗi tấm ván khắc không chỉ lưu giữ kinh sách mà còn gìn giữ tư tưởng của một dòng thiền mang đậm bản sắc Việt Nam. Qua từng nét khắc, hậu thế có thể hình dung một thời kỳ mà đạo pháp hòa cùng nhịp thở của dân tộc, khi những ngôi chùa vừa là nơi tu tập, vừa là trường học, là trung tâm văn hóa và là điểm tựa tinh thần của cộng đồng.

Có lẽ, đó cũng là giá trị bền vững nhất mà Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đang lưu giữ. Không chỉ là những công trình kiến trúc cổ kính hay những cánh rừng nguyên sinh, mà còn là ký ức về một thời đại rực rỡ, nơi đạo và đời cùng chung một nhịp đập, nơi tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ và lòng từ bi hòa quyện thành sức mạnh của dân tộc.

Chiều buông trên Yên Tử. Tiếng chuông chùa lại ngân giữa đại ngàn, hòa vào tiếng gió và bước chân của những người hành hương vẫn lặng lẽ tìm về non thiêng. Hơn bảy thế kỷ đã trôi qua, những dấu chân năm nào đã in vào lịch sử. Nhưng hành trình ấy dường như vẫn chưa khép lại.

Bởi điều còn ở lại sau lớp rêu phong của những bậc đá, sau mái ngói cổ kính của những ngôi chùa, không chỉ là một miền di sản được thế giới vinh danh, mà còn là một triết lý sống đã vượt qua thử thách của thời gian: Sống giữa cuộc đời bằng một tâm thế an nhiên, sống có trách nhiệm với cộng đồng, với đất nước. Có lẽ, đó cũng chính là giá trị trường tồn nhất mà Thiền phái Trúc Lâm gửi lại cho hậu thế.

Thời gian qua, lượng khách đến các điểm di tích của Bắc Ninh tăng mạnh, nhất là sau khi Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Năm 2025, Bắc Ninh đón khoảng 6,3 triệu lượt khách, trong đó 355.000 lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch ước đạt 5.500 tỷ đồng. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đón 6,5-7 triệu lượt khách, trong đó khoảng 420.000 khách quốc tế.

Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành Đề án tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, hướng tới đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng Bắc Ninh thành trung tâm du lịch văn hóa - di sản - nghỉ dưỡng của vùng Thủ đô và Đồng bằng sông Hồng.

Một trọng tâm là hoàn thiện Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử và xây dựng sản phẩm “Con đường hoằng dương Phật pháp của các Phật tổ Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử”. Các tuyến du lịch văn hóa tâm linh kết nối chùa Vĩnh Nghiêm với hệ thống chùa, di tích như Bình Long, Yên Mã, Am Vãi, Ngọa Vân, Hồ Thiên và chùa Đồng, hình thành không gian trải nghiệm Phật giáo Tây Yên Tử liên vùng.

Kim Sa

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/dau-chan-nhap-the-tren-mien-di-san-truc-lam-432685.html