Làng đúc đồng Chú Tượng, còn ai giữ lửa?

Từng có hàng trăm hộ đỏ lửa làm nghề, làng đúc đồng Chú Tượng nay thuộc thôn Đức Hiệp, xã Long Phụng (Quảng Ngãi) chỉ còn những người thợ miệt mài gìn giữ kỹ thuật cha ông truyền lại. Trong tiếng búa, tiếng đục và dòng đồng nóng chảy, câu chuyện bảo tồn một nghề thủ công truyền thống đang đặt ra nhiều trăn trở.

Ông Cao Văn Chư (bên phải) trao đổi với người thợ về giá trị văn hóa và những nỗ lực bảo tồn nghề đúc đồng truyền thống

Ông Cao Văn Chư (bên phải) trao đổi với người thợ về giá trị văn hóa và những nỗ lực bảo tồn nghề đúc đồng truyền thống

Làng của những người thợ đúc

Theo lời kể của các cao niên, tên gọi Chú Tượng đã gắn với nghề truyền thống từ rất lâu. “Chú” được hiểu là thợ, “Tượng” là đúc, tức là làng của những người thợ đúc. Không ai còn nhớ chính xác nghề xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết rằng qua nhiều thế hệ, nghề cứ được cha truyền con nối và từng trở thành một nghề nổi tiếng của Quảng Ngãi.

Có thời, làng Chú Tượng có đến hàng trăm hộ chuyên sản xuất nồi đồng, khuôn ngói, đồ thờ, nhạc cụ, vũ khí, trong đó nổi tiếng nhất là nghề đúc chuông. Những sản phẩm của làng không chỉ phục vụ đời sống mà còn hiện diện trong các không gian tín ngưỡng.

Những quả chuông được đúc tinh xảo tại chùa Thiên Ấn, chùa Ông, chùa Thình Thình, chùa Diệu Giác… trở thành dấu ấn cho tay nghề của những người thợ nơi đây.

Đất sét được trộn với trấu để tạo khuôn đúc, một kỹ thuật truyền thống vẫn được duy trì tại làng nghề đúc đồng

Đất sét được trộn với trấu để tạo khuôn đúc, một kỹ thuật truyền thống vẫn được duy trì tại làng nghề đúc đồng

Theo ông Cao Văn Chư, nguyên Phó Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi, nghề đúc đồng Chú Tượng là một trong những nghề thủ công truyền thống nổi bật của địa phương. Nghề không chỉ tạo ra những vật dụng phục vụ đời sống mà còn gắn với lịch sử hình thành làng quê, lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc.

Dấu ấn của nghề còn được lưu truyền qua những câu vè dân gian: “Đúc một ống ngoáy trầu hơn làm một sào ruộng”. Câu nói cho thấy có thời nghề đúc mang lại giá trị kinh tế đáng kể, đủ để người dân xem đây là một kế sinh nhai quan trọng.

Người thợ Chú Tượng từng làm nhiều vật dụng quen thuộc như nồi đồng, ống nhổ, chân hương... Đồng thời đảm nhận những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao như chiêng, chuông, tượng Phật và các loại vật dụng phục vụ triều đình.

Trong những năm tháng chiến tranh, người thợ đúc đồng nơi đây còn tham gia đúc vũ khí phục vụ cách mạng. Nghề đúc từng có vai trò không nhỏ trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của vùng đất Quảng Ngãi.

Ông Đỗ Đức Cảm bên phôi đồng thô được lấy ra khỏi khuôn

Ông Đỗ Đức Cảm bên phôi đồng thô được lấy ra khỏi khuôn

Để một sản phẩm đồng thành hình

Đằng sau vẻ sáng bóng của một chiếc nồi hay bộ lư đồng là cả một quy trình thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm của người thợ.

Theo ông Đỗ Đức Cảm (56 tuổi), công đoạn đầu tiên là làm khuôn đất. Đất sét được nhào trộn với trấu theo tỷ lệ khoảng 70% đất sét và 30% trấu. Hỗn hợp này tạo độ dai, hạn chế co ngót, nứt vỡ và tăng khả năng chịu nhiệt cho khuôn. Từ khối đất, người thợ nén, đắp, tạo hình rồi đục chạm hoa văn hoàn toàn bằng tay.

Ông Cảm cho biết, khuôn sau khi hoàn thiện được nung chín từ trong ra ngoài để bảo đảm độ khô và chắc. Sau đó, khuôn trong và khuôn ngoài được ráp lại, cố định cẩn thận trước khi bước vào công đoạn rót đồng.

“Đây là lúc kinh nghiệm được thử thách rõ nhất. Người đúc phải kiểm soát nhiệt độ đồng, xác định đúng thời điểm rót và thao tác chính xác để kim loại lỏng điền đầy khuôn. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến sản phẩm không đạt yêu cầu”, ông Cảm nói.

Đặc biệt, nghề đúc đồng truyền thống vẫn giữ tính thủ công rõ nét ngay từ khâu làm khuôn. Ông Cảm nhấn mạnh: “Với những chiếc nồi có phần hông phình ra, máy móc hiện đại khó có thể thay thế hoàn toàn bàn tay người thợ, bởi khuôn không thể rút theo đường thẳng như cách máy móc thông thường thực hiện. Vì vậy, từng đường nét, từng chi tiết đều phải được tính toán và xử lý bằng kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm”.

Một phôi đồng thô sau khi ra khỏi khuôn

Một phôi đồng thô sau khi ra khỏi khuôn

Khi đồng nguyên liệu được cho vào nồi đất, than được thổi liên tục để duy trì nhiệt độ khoảng 1.000°C. Sau khoảng 45 phút, đồng nóng chảy thành dòng kim loại đỏ rực. Người thợ phải trực tiếp bưng nồi đồng nóng chảy đến miệng khuôn rồi rót nhanh, chính xác. Đây cũng là công đoạn nguy hiểm nhất trong cả quy trình.

Dòng đồng nóng có thể bắn ra bất cứ lúc nào, nếu đồng nóng văng trúng chân, người thợ đôi khi phải cắn răng đứng yên để tránh làm xô lệch tư thế, bởi một phản ứng giật mình có thể khiến đồng nóng chảy tung tóe, gây nguy hiểm lớn hơn.

Những chiếc nồi đồng là sản phẩm truyền thống được sản xuất tại Chú Tượng

Những chiếc nồi đồng là sản phẩm truyền thống được sản xuất tại Chú Tượng

Khi đồng nguội và đông cứng, khuôn được phá để lấy sản phẩm ra. Tuy nhiên, lúc này sản phẩm mới chỉ là một phôi thô. Người thợ còn phải cắt bỏ phần đồng dư, xử lý đường gằn, đường rãnh, mài nhẵn và làm sạch bề mặt.

Công đoạn đánh bóng tiếp tục kết hợp giữa máy mài và chà xát thủ công. Chỉ khi bề mặt đạt độ nhẵn, mịn và sáng, sản phẩm mới có thể đưa ra thị trường.

Từ một phôi đồng thô, qua nhiều công đoạn, sản phẩm dần hiện lên với đường nét chắc chắn, sáng bóng. Với ông Cảm, mỗi thao tác đều đòi hỏi sự cẩn trọng và kinh nghiệm, bởi chính những chi tiết tưởng như nhỏ bé ấy góp phần làm nên giá trị của sản phẩm và giữ cho nghề đúc Chú Tượng tiếp tục tồn tại.

Ông Đoàn Văn Trú mua sản phẩm đúc đồng truyền thống

Ông Đoàn Văn Trú mua sản phẩm đúc đồng truyền thống

Giữ lửa nghề xưa, tìm đường sống mới

Trong các sản phẩm của làng nghề, nồi đồng vẫn là mặt hàng được tiêu thụ mạnh. Nồi được dùng để nấu rượu, nấu cơm, hầm thức ăn, tráng bánh và phục vụ nhiều công việc trong đời sống. Sản phẩm còn được đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên ưa chuộng.

Đặc biệt, với những gia đình làm bánh tráng, chiếc nồi đồng gần như là vật dụng không thể thiếu. Nghề tráng bánh thường sử dụng lửa củi hoặc trấu với cường độ cao, vì vậy nồi phải có khả năng chịu nhiệt và sử dụng bền bỉ. Phần thân bầu phình của nồi đồng cũng giúp chứa được nhiều nước, tạo lượng hơi nước dày, hỗ trợ bánh chín đều bằng hơi.

Ông Đoàn Văn Trú, ở xã Nghĩa Giang chia sẻ: “Nồi đồng được người làm bánh tráng ưa chuộng bởi khả năng chịu nhiệt tốt. Những chiếc nồi đồng cổ, được làm từ đồng dày, nếu sử dụng và bảo quản đúng cách có thể bền 30-40 năm.

Ngày nay, do nguồn đồng khan hiếm, nồi mới thường mỏng hơn và có thể pha thêm một số vật liệu, nhưng nồi đồng vẫn là lựa chọn được nhiều người làm bánh tin dùng”.

Ông Trần Dục tỉ mỉ tạo khuôn đất, công đoạn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm trong nghề đúc đồng

Ông Trần Dục tỉ mỉ tạo khuôn đất, công đoạn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm trong nghề đúc đồng

Nghề đúc đồng nặng nhọc, môi trường làm việc nhiều bụi bẩn, công sức bỏ ra lớn trong khi thu nhập không phải lúc nào cũng tương xứng. Khi những công việc mới mở ra nhiều cơ hội hơn, lớp trẻ dần ít mặn mà với nghề của cha ông.

Ở tuổi 66, ông Trần Dục, ở thôn Đức Hiệp, vẫn gắn bó với nghề. Với ông, đây không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức của gia đình, là công việc được cha ông truyền lại. “Ở tuổi tôi thì không thể chuyển sang nghề khác. Nghề của cha ông để lại, mình còn làm được thì cố giữ”, ông Dục chia sẻ.

Điều khiến ông trăn trở nhất chính là câu chuyện nối nghiệp. Công việc thủ công vất vả, thường xuyên đứng bên sức nóng của lò nung khiến lớp trẻ có xu hướng tìm những công việc nhẹ nhàng hơn. Nếu không có thế hệ kế tiếp, kỹ thuật và kinh nghiệm của nghề sẽ đứng trước nguy cơ thất truyền.

Sản phẩm đúc đồng được chế tác khéo léo, mang giá trị nghệ thuật và dấu ấn riêng của làng nghề truyền thống

Sản phẩm đúc đồng được chế tác khéo léo, mang giá trị nghệ thuật và dấu ấn riêng của làng nghề truyền thống

Xã Long Phụng xác định bảo tồn làng nghề phải gắn với sinh kế. Cùng với đó là hướng kết nối làng nghề với du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái.

Khi đến Chú Tượng, du khách không chỉ mua một sản phẩm mà còn có thể tận mắt chứng kiến cách làm khuôn, nấu đồng, rót đồng và hoàn thiện sản phẩm. Những dòng đồng đỏ rực, tiếng búa, tiếng đục và đôi bàn tay người thợ hoàn toàn có thể trở thành một trải nghiệm văn hóa đặc sắc.

“Địa phương định hướng sẽ kết nối người sản xuất với đơn vị phân phối và doanh nghiệp tiêu thụ, tạo thị trường ổn định cho sản phẩm. Khi nghề đem lại thu nhập, người dân mới có thêm động lực bám nghề. Khi người trẻ nhìn thấy cơ hội từ nghề truyền thống, câu chuyện nối nghiệp mới có hy vọng”, ông Nguyễn Văn Thạch, Phó Chủ tịch UBND xã Long Phụng chia sẻ.

NHƯ ĐỒNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/lang-duc-dong-chu-tuong-con-ai-giu-lua-258679.html