Chủ động phòng ngừa bệnh dại
Bệnh dại là bệnh nhiễm vi - rút cấp tính của hệ thần kinh trung ương, lây truyền từ động vật sang người, chủ yếu qua vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh. Khi đã lên cơn dại, cả người và động vật đều dẫn đến tử vong. Tiêm vắc - xin cho người và động vật; đồng thời xử lý đúng cách sau phơi nhiễm là những biện pháp quan trọng để phòng, chống bệnh.
THỜI GIAN Ủ BỆNH VÀ ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN
Bệnh dại lây truyền qua chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm vi - rút dại. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm xảy ra qua vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh; đôi khi có thể lây qua đường tiếp xúc như hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm vi - rút dại.

Bệnh dại ở người có thể phòng và điều trị dự phòng rất hiệu quả bằng vắc - xin và huyết thanh kháng dại. Ảnh minh họa.
Ở người, giai đoạn tiền triệu chứng thường kéo dài từ 1 - 4 ngày, với biểu hiện như: Sợ hãi, đau đầu, sốt, mệt mỏi, khó chịu, tê và đau tại vết thương nơi vi - rút xâm nhập.
Giai đoạn viêm não thường có biểu hiện mất ngủ, tăng kích thích, sợ ánh sáng, tiếng động và gió nhẹ; kèm các rối loạn thần kinh thực vật như: Giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi, hạ huyết áp.
Bệnh tiến triển theo hai thể là thể liệt kiểu hướng thượng (hội chứng Landly) và thể cuồng. Bệnh thường kéo dài từ 2 - 6 ngày, đôi khi lâu hơn và chết do liệt cơ hô hấp.
Thời gian ủ bệnh dại ở người thường từ 1 - 3 tháng sau phơi nhiễm nhưng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn, từ 1 tuần đến 1 năm. Trường hợp ủ bệnh dài hơn 1 năm đã được ghi nhận nhưng rất hiếm.
Thời gian ủ bệnh phụ thuộc tình trạng nặng, nhẹ của vết cắn, vị trí vết cắn, khoảng cách từ vết cắn đến thần kinh trung ương và số lượng vi - rút xâm nhập. Vết cắn càng nặng và càng gần thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh càng ngắn.
Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn vào cơ thể.
Vi - rút từ vị trí xâm nhập theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương, sau đó sinh sản nhanh và theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Khi đó, bên ngoài con vật vẫn có thể bình thường nhưng nước bọt đã có vi - rút dại.
XỬ LÝ ĐÚNG CÁCH KHI BỊ CHÓ, MÈO CẮN
Bệnh dại ở người có thể phòng và điều trị dự phòng hiệu quả bằng vắc - xin và huyết thanh kháng dại. Tiêm vắc - xin phòng bệnh cho người và động vật, chủ yếu là chó, mèo, là biện pháp quan trọng nhất để phòng, chống bệnh.
Những người có nguy cơ nhiễm vi - rút dại như: Nhân viên thú y, kiểm lâm, người làm việc trong phòng thí nghiệm có vi - rút dại cần được gây miễn dịch bằng vắc - xin dại tế bào có hiệu lực bảo vệ cao và tiêm nhắc lại theo chỉ định của y tế.
Người bị chó, mèo cắn cần rửa ngay thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng đặc, sau đó rửa bằng nước muối, bôi chất sát trùng như cồn, cồn iốt để làm giảm lượng vi - rút tại vết cắn. Chỉ khâu vết thương trong trường hợp vết cắn đã quá 5 ngày. Tiêm vắc - xin uốn ván và điều trị chống nhiễm khuẩn nếu cần.
Tùy tình trạng súc vật, vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng, có thể sử dụng vắc - xin dại tế bào hoặc kết hợp vắc - xin với huyết thanh kháng dại để điều trị dự phòng.
Người bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc cần được khám càng sớm càng tốt để có chỉ định phù hợp. Hiệu quả điều trị dự phòng phụ thuộc vào loại vắc - xin, kỹ thuật tiêm, bảo quản sinh phẩm và đáp ứng miễn dịch của người bệnh.
Khi con vật được xác định mắc bệnh dại phải tiêu hủy ngay. Trường hợp không xác định được chủ vật nuôi thì UBND cấp xã chịu trách nhiệm tiêu hủy để ngăn chặn lây truyền bệnh sang súc vật khác và sang người.
Động vật nghi mắc bệnh dại, nhiễm bệnh dại phải được cách ly, theo dõi. Đồng thời, vệ sinh, khử trùng, tiêu độc toàn bộ chuồng, cũi, dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển, môi trường, thức ăn, chất thải và các vật dụng đã tiếp xúc với con vật mắc bệnh.
Tất cả chó, mèo khỏe mạnh trong ổ dịch phải được nhốt, theo dõi; tiêm bắt buộc cho chó, mèo khỏe mạnh trong ổ dịch và các thôn tiếp giáp, tiêu hủy những con chó, mèo nếu không tiêm.
Tất cả người bị chó, mèo cắn, cào, liếm hoặc tiếp xúc phải xử lý vết thương, khám và điều trị dự phòng. Tuyệt đối không được điều trị bằng các mẹo dân gian.

