Chiến thắng Tây Nguyên - thắng lợi của đường lối và sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn của Đảng

Ngày hôm nay (3-4), cách đây tròn 50 năm, Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, đã tạo ra một sự đột biến về mặt chiến lược để thực hiện tổng tiến công chiến lược, giải phóng miền Nam vào tháng 4-1975 bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chiến thắng Tây Nguyên, có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, quyết định chính là từ đường lối, sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng

Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hình thành từ Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959) của Đảng, được bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện trong các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nghị quyết Trung ương 11, 12 (1965), Nghị quyết Trung ương 13 (1967), Nghị quyết Trung ương 14 (1968) và Nghị quyết Trung ương 16 (1970). Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bao gồm hệ thống các quan điểm về đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp cách mạng.

Bàn kế hoạch tác chiến tại Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 3-1975. Ảnh tư liệu

Bàn kế hoạch tác chiến tại Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 3-1975. Ảnh tư liệu

Tư tưởng cốt lõi là sử dụng con đường cách mạng bạo lực, đánh địch bằng hai lực lượng (chính trị, quân sự), hai hình thức đấu tranh (chính trị, vũ trang) bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận), đánh địch trên ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, thành thị); tiêu diệt địch giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch; kết hợp khởi nghĩa với chiến tranh, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Những quan điểm, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo chiến tranh được Đảng ta quán triệt, chỉ đạo thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn trên chiến trường, với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Trên cơ sở phân tích đúng đắn tình hình thế giới, trong nước, đặc biệt đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường miền Nam sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương, khóa III (tháng 7-1973) ra Nghị quyết: "Về thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ cách mạng miền Nam Việt Nam trong tình hình mới". Nghị quyết khẳng định: "Con đường tiến lên giành thắng lợi của cách mạng miền Nam Việt Nam chỉ có thể là con đường bạo lực dưới hình thức này, hay hình thức khác”. Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 1-1975) Đảng ta khẳng định: "Phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc năm 1976".

Nội dung tư tưởng chỉ đạo của các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đều khẳng định thời cơ giành thắng lợi hoàn toàn đã xuất hiện, phải chuẩn bị mọi mặt, tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, chớp thời cơ giành thắng lợi bằng con đường cách mạng bạo lực. Đường lối đó, được phổ biến, quán triệt tới lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, đặc biệt quán triệt, triển khai tới Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, tới các lực lượng tham gia chiến địch, để biến quyết tâm chiến lược của Đảng thành hành động thiết thực, cụ thể, tạo nên những thời cơ, cục diện mới của chiến tranh.

Qua thực tiễn ở chiến trường, Đảng tiếp tục bổ sung quyết tâm chiến lược. Sau giải phóng Buôn Ma Thuột, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Cuối tháng 3-1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất trong tháng 4-1975. Đường lối, quyết tâm chiến lược đánh Mỹ, thắng Mỹ được quán triệt, chỉ đạo tổ chức thực hiện trên chiến trường, là nhân tố quyết địch đưa đến thắng lợi Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên nói riêng, cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng miền Nam vào ngày 30-4-1975 nói chung.

Sự chỉ đạo sắc bén, kịp thời của Đảng

Trước hết là sự chỉ đạo chọn hướng tiến công, đánh trận mở đầu tài giỏi. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Đảng chọn hướng tiến công chủ yếu là Tây Nguyên, trận đánh mở đầu, đột phá chiến lược là đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Đó là quyết định đúng đắn, sáng suốt bởi lẽ, so với các chiến trường khác, vào thời điểm đó, địch ở Tây Nguyên có lực lượng tương đối lớn, nhưng do địa bàn rộng lớn chúng phải căng ra giữ các mục tiêu nên lực lượng phân tán, sức cơ động hạn chế. Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chỉ tập trung lực lượng, tăng cường phòng thủ hướng Kon Tum, Gia Lai. Ở hướng Bắc thị xã Buôn Ma Thuột lúc đó chỉ có Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, Trung đoàn 53 có tăng cường một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một thiết đoàn và 9 tiểu đoàn bảo an. Nhưng là căn cứ kiên cố, nằm sâu trong hậu phương của địch, nên địch rất chủ quan và cho rằng, ta chưa đủ khả năng mở chiến dịch lớn đánh vào Tây Nguyên và tiến công Buôn Ma Thuột.

Quân giải phóng tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột, tháng 3-1975. Ảnh tư liệu.

Quân giải phóng tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột, tháng 3-1975. Ảnh tư liệu.

Chọn Tây Nguyên là hướng tiến công còn do vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng. Tây Nguyên là nóc nhà của Đông Dương. Về phía ta, để mở đầu cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1975, ta điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn. Thời kỳ này, ở Tây Nguyên các tuyến đường vận tải chiến lược được xây dựng mở rộng, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ động thuận lợi. So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp nhiều lần. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu là Nam Tây Nguyên. Mục tiêu then chốt, trận đánh mở đầu, đột phá là Buôn Ma Thuột. Ta đã "điểm đúng huyệt" đánh vào nơi rất hiểm yếu của địch.

Giải phóng được Tây Nguyên, tạo điều kiện phát triển thuận lợi xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, tiến về hướng nam uy hiếp Đông Nam Bộ, tiến lên hướng bắc uy hiếp Kon Tum, Pleiku. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến sự tan rã, suy sụp về chiến lược của địch, tạo điều kiện cho quân và dân ta mở và đánh các chiến dịch tiếp theo thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chỉ đạo chọn hướng tiến công, đánh trận mở đầu chính xác là một thiên tài của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Đồng thời, Đảng còn chỉ đạo nghi binh, đánh địch, thắng địch trong Chiến dịch Tây Nguyên; đó là bước phát triển vượt bậc một thành công lớn trong chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Đảng chỉ đạo đánh 3 trận then chốt, mỗi trận có đối tượng, cách đánh khác nhau, nhưng đều dành thắng lợi vang dội. Trận đánh then chốt, mở đầu tiến công Buôn Ma Thuột, tác chiến trên địa bàn bằng phẳng, trong thành phố, quân địch đông, bố phòng chặt chẽ, Đảng chỉ đạo đánh hợp đồng binh chủng, quy mô lớn. Thực hiện đánh chia cắt, cô lập địch thành từng cụm, làm cho địch quân số đông nhưng không chi viện được cho nhau, không thể đối phó với các lực lượng của ta và cuối cùng bị ta tiêu diệt, bắt sống hoàn toàn.

Phán đoán được âm mưu của địch tái chiếm Buôn Ma Thuột, tăng quân, tiếp viện bằng đổ bộ đường không. Trong trận quyết chiến thứ hai-đánh địch ngoài công sự, ta đã chủ động bố trí lực lượng chờ sẵn, khi địch vừa đổ bộ đánh trận phủ đầu, chia cắt đội hình không đề cho địch co cụm. Trận quyết chiến thứ ba then chốt, đánh địch tháo chạy trên Đường 7. Tuy quân địch đông, nhưng tinh thần bạc nhược. Các lực lượng của ta đã phối hợp chặt chẽ, mưu trí, dũng cảm, tiến công địch từ nhiều phía, chia cắt đội hình không cho địch co cụm, chạy về các tỉnh duyên hải miền Trung.

Thắng lợi trong trận đánh truy kích địch tháo chạy có ý nghĩa về nghệ thuật chiến dịch, tạo nên bước ngoặt chiến lược của chiến tranh cách mạng, thúc đẩy tiến trình tan rã, sụp đổ của ngụy quân Sài Gòn ngày càng nhanh chóng. Chiến dịch Tây Nguyên, không chỉ là sự chỉ đạo đánh hiệp đồng quân binh chủng, phối hợp giữa ba thứ quân, mà còn là sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng về phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên tham gia chiến dịch. Trong chiến dịch này, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên không chỉ chủ động tham gia mở đường, vận tải phục vụ các đơn vị chủ lực và các hoạt động nghi binh lừa địch, mà còn vận động nhân dân phối hợp với các đơn vị chủ lực hoạt động tác chiến trong truy quét tàn quân địch, nổi dậy phá ấp chiến lược, lật đổ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng; tham gia giữ gìn, bảo vệ thành quả cách mạng...

Đại tá, PGS, TS ĐOÀN NGỌC HẢI, nguyên Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/50-nam-dai-thang-mua-xuan-1975/chien-thang-tay-nguyen-thang-loi-cua-duong-loi-va-su-chi-dao-chien-luoc-dung-dan-cua-dang-822351
Zalo