Chặng đường dài và tầm nhìn xa của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam

Ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam đang trong thời điểm có những chuyển biến mang tính 'bước ngoặt'. Dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân đang được xây dựng tại Đồng Nai sẽ có một lò phản ứng mới với công suất 10 MWt, lớn hơn gấp 20 lần công suất lò hạt nhân Đà Lạt hiện tại.

Một góc lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh tư liệu: Đặng Tuấn/TTXVN

Một góc lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh tư liệu: Đặng Tuấn/TTXVN

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt và sứ mệnh lịch sử

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hiện tại là lò phản ứng nghiên cứu duy nhất của Việt Nam được xây dựng từ năm 1961. Khi đó, Mỹ đầu tư xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu tại miền Nam Việt Nam theo công nghệ TRIGA – MARK II. TRIGA là thiết kế của nhà vật lý lý thuyết Edward Teller. Theo tài liệu của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), lò phản ứng TRIGA là tên viết tắt của các hoạt động đào tạo, nghiên cứu đồng vị nguyên tử nói chung. Lò phản ứng được thiết kế với nhiên liệu hợp kim hydride uranium-zirconium có độ giàu U-235 dưới 20%, tốc độ phản ứng trong lò có thể được giảm nhanh chóng nếu như nhiệt độ ở lõi lò tăng cao. Lò phản ứng Đà Lạt vận hành chính thức năm 1963. Đến năm 1968, chính quyền Mỹ đã tháo dỡ nhiên liệu ra khỏi lò phản ứng và bó nhiên liệu sau đó được chuyển về nước Mỹ.

Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân là người đóng vai trò quan trọng vào công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt năm 1983 và sau đó xây dựng, tổ chức nghiên cứu khai thác. Ông nhớ lại, khi đoàn chuyên gia hạt nhân Liên Xô sang Đà Lạt khảo sát, trong đó có Viện sĩ Georgy Flyorov (người khám phá ra hiện tượng phân hạch tự phát năm 1940) đã khuyên cần “nhanh chóng khôi phục lò và tập hợp đội ngũ khoa học để khai thác, chứ không phải xây một lò mới hoàn toàn với công suất quá lớn”. Việc khôi phục lò phản ứng sẽ cần đến việc phải thay nhiên liệu theo công nghệ TRIGA – MARK II bằng nhiên liệu tiêu chuẩn của Liên Xô, đi kèm với việc thiết kế một thùng lò mới theo công nghệ IVV-9. Kế hoạch tưởng như không tưởng vào thời điểm đó đã đưa lò phản ứng Đà Lạt thành lò phản ứng độc nhất trên thế giới “vỏ Mỹ, ruột Nga”.

Ngày 1/11/1983, khi lò phản ứng IVV-9 đạt trạng thái tới hạn lần đầu cũng là điểm tái khởi động rực rỡ của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, mở ra một chương mới cho việc tập hợp và xây dựng đội ngũ khoa học hạt nhân, triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

IAEA đánh giá lò hạt nhân Đà Lạt là lò phản ứng hiệu quả bậc nhất trong các quốc gia đang phát triển. Đến nay, lò này vẫn được vận hành bền bỉ và đem lại nhiều giá trị cho các ngành kinh tế, từ nghiên cứu khoa học thuần túy đến các hoạt động triển khai dịch vụ như nghiên cứu sản xuất các loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y tế, tạo ra các giống cây trồng mới với những đặc tính vượt trội, cũng như các hoạt động dịch vụ kiểm chuẩn các thiết bị đo lường bức xạ và hạt nhân, kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đánh giá và cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hóa… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Sau ngày thống nhất đất nước, phần lớn những thành công của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam, từ nghiên cứu cơ bản đến triển khai đều xuất phát từ lò hạt nhân Đà Lạt. Hơn 4 thập kỷ vận hành, lò đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ được thiết kế một cách thành công. Tại đây, phương pháp kết hợp kỹ thuật phân tích hạt nhân và hóa lý đã được phát triển để phân tích định lượng khoảng 70 nguyên tố và thành phần trong các mẫu khác nhau; các thí nghiệm trong lĩnh vực đo lường dữ liệu hạt nhân, chụp ảnh bức xạ neutron và nghiên cứu cấu trúc hạt nhân được thực hiện.

Giấc mơ đang dần hiện thực hóa

Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Cao Đông Vũ đánh giá: Hơn sáu thập niên trôi qua, lò hạt nhân Đà Lạt không chỉ là một “chứng nhân” cho quá trình phát triển của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam mà còn ghi dấu một bước chuyển quan trọng về năng lực khoa học.

Nếu ở thời điểm bắt đầu công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, các nhà nghiên cứu non trẻ còn chưa đủ trình độ để tham gia cùng các chuyên gia Liên Xô trong việc tính toán và thiết kế thì từ năm 2007 đến năm 2013, việc giao trả các thanh nhiên liệu có độ giàu cao về Nga đã được các nhà khoa học Việt Nam chủ động tính toán và bàn bạc trong thế ngang hàng với chuyên gia quốc tế.

Vai trò của lò hạt nhân Đà Lạt càng được khẳng định trong dịch COVID-19, đặc biệt trong lĩnh vực y học hạt nhân, khi cung cấp đồng vị phóng xạ để điều trị cho hàng nghìn bệnh nhân ung thư tuyến giáp và các bệnh khác.

Tiến sĩ Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam chia sẻ: Những người làm năng lượng nguyên tử hiểu rõ vai trò, giá trị cũng như hiệu quả mang lại nên đã nghiêm túc bắt tay vào xây dựng dự án Trung tâm Khoa học và công nghệ hạt nhân quốc gia và lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân mới từ sớm.

Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo và huấn luyện nâng cao về công nghệ hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân mới sẽ giúp đẩy mạnh những ứng dụng khác như sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ phục vụ y tế, sử dụng trong công nghiệp như chiếu xạ silic để đơn tinh thể silic tinh khiết trở thành chất bán dẫn… Quyết định đầu tư tiến thẳng vào công nghệ cao - năng lượng nguyên tử đã thể hiện tầm nhìn xa cho Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới.

HL (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/chang-duong-dai-va-tam-nhin-xa-cua-nganh-nang-luong-nguyen-tu-viet-nam-20250830113045796.htm
Zalo